Ký ức Hà Nội xưa: Con sáo tinh khôn (I)

27/10/2009 22:59:52

- Có lúc con sáo bay ra cả cành cây ngoài đường, bay tít ra đến cây đa giữa phố, nhưng rồi nó lại quay về, không biết vì sao. Còn bà Cả Đào vừa cười vừa bảo, nó nghiện mất mùi thuốc phiện của ông mất rồi.

Ngày còn bé, bà chiều tôi lắm, đi đâu cũng cho đi theo, như cái dải đuôi.

Thường thì bà hay đến thăm các cụ các bà quanh quanh trong họ ở các dãy phố buôn bán ngang dọc khúc khuỷu đông vui, mà bây giờ người ta gọi là phố cổ. Nhà nào cũng nhang nhác giông giống nhà nào. Mặt tiền là các quầy hàng, rồi là đến bộ bàn ghế trường kỷ kê trước sập gụ, một bên là cái tủ chè.

Mô tả ảnh.
Con sáo bay mất rồi lại quay về vì nó nghiện mùi thuốc phiện của các ông. Ảnh minh họa

Qua cái sân lộ thiên có bầy cây cảnh non bộ là đến khu nhà kho, nhà bếp, ngổn ngang hàng họ, lấp ló anh xe, chị vú, chị bếp chạy ra chạy vào luôn chân luôn tay.

Thích nhất là được đến chơi nhà bà cả Đào, ở phố hàng Hài, bây giờ là đầu hàng Bông. Bà to béo lắm, chỉ cái cẳng tay nần nẫn đã gần bằng cả bà tôi. Cằm liền xuống vai, không thấy cổ đâu, cái môi ăn trầu lúc nào cũng hơn hớn cười như ông Di Lặc ngồi trên tủ cổ. 
 
Nhà bà khách khứa suốt ngày. Khách của bà dưới nhà, khách của ông trên gác, chẳng mấy khi thấy đàn ông ngồi lẫn đàn bà. Chỉ lúc ra về là cúi đầu chắp tay, chào chào hỏi hỏi cứ như lâu lắm mới lại gặp nhau.

Thường thì các bà rủ nhau ngồi cả trên sập, têm trầu uống nước, chuyện trò rỉ rả từ chuyện buôn chuyện bán, chuyện nhà chuyện cửa. Chuyện từ trong họ ra đến chuyện nhà người ta, chuyện ở Hải Phòng hay là Nam Định, cả chuyện bên Xiêm và bên Cam Bốt.

Khi thì kéo nhau vào phía phòng trong, xếp bàn ra chơi mạt chược, nhoài người xoa đi xoa lại các dãy quân bài làm bằng ngà voi, vuông vắn, có khắc biết bao nhiêu là ký hiệu loằng ngoằng. Sắp đến giờ về, các bà vuốt đi vuốt lại các đồng tiền giấy trước mặt. Người được người thua đều nhìn cả vào mắt của nhau mà cười. Mấy đứa trẻ con, ngồi xồm hổm quanh cái hộp gỗ dán, vừa to vừa rộng có lót dạ xanh trong lòng, hí hoáy xếp các quân bài vào vừa khít khịt.

Tôi chẳng thích ngồi gần các bà, tôi leo lên gác, luẩn quẩn quanh đống đồ cổ cũ kỹ, già nua, chẳng có cái nào giống với cái nào. Vục đầu vào trong lòng mấy chiếc trống đồng xếp ngược, tôi nhặt lấy ra bao nhiêu lưỡi rìu với mũi tên đồng, xếp làm trò chơi. Và tôi lẳng lặng theo dõi cuộc vui ú tim đuổi bắt giữa một con sáo mỏ vàng với một con mèo Xiêm mắt xanh lông đen tinh quái.

Con sáo ngược chân bám vào mấy thanh đại đao, chùy đồng cắm trên cái bộ giá gỗ cao vút, ngoái cổ nhìn xuống. Nhún chân trên nắp lư đồng, con mèo ngước mắt nhìn lên, cái chân cào cào như hù như dọa. Bốn mắt chăm chú nhìn nhau, trông thật căng thẳng, nhưng mà lại như đang đùa.

Mỗi lần con mèo tung chân nhảy lên, chú sáo lại vẫy cánh bay tới sát trần. Con mèo rơi xuống, nó lại xà cánh bám vào chỗ cũ, như là chọc tức đối thủ.

Vẫn chưa thỏa lòng, bỗng nó xà xuống, chui ngay vào gậm mấy cái đôn gỗ. Con mèo nhao theo, thò chân xuống gậm cào lấy cào để, đến khi con sáo phải chạy thoát thân, bay bổng lên bám vào dãy lồng chim rõ to treo ngoài ban công, ngoắt ngoắt cái đuôi đen nhánh như để trêu tức con mèo.

Nghiêm nghị giam mình sau lớp nan tre thẳng đều tăm tắp, là những con họa mi giọng hót tuyệt vời, là chú yểng biết nói tiếng người, là cả một con có tên rất lạ, lông cánh rực rỡ sắc màu. Con nào cũng đẹp cũng tài, nhưng ngoài chú sáo xấu xí, không có con nào được ra khỏi lồng.

Cái dấu hỏi ấy cứ vấn vương mãi bên trong cái sọ bé bỏng của tôi. Mãi về sau này, thi thoảng nhớ đến con sáo tinh khôn, tôi lại bỗng thấy hiện ra một dấu chấm hỏi lạ lùng.

Lạ lùng hơn nữa, đưa mắt nhìn ra góc phòng bên kia, quanh bộ ghế sa lông tầu, là nơi các ông vẫn đang ngồi chơi. Lẳng lặng ngồi im suốt hết cả ngày. Nâng niu xoa xuýt mấy cái lọ sứ cổ lỗ, vuốt chòm râu bạc như cước khi nghe tiếng chim họa mi vút lên, rồi đưa chén trà lên mũi mà ngửi.

Trong cái căn phòng rộng mênh mông này, không gian như đặc quánh lại trong tiếng tíc tắc tíc tắc của mấy cái đồng hồ quả lắc theo nhau đung đưa.

Thật vô lý quá, làm sao mà lại có thể cứ ngồi như thế, suốt cả ngày dài, chỉ để chờ để nghe một tiếng chim kêu. Mà không đứng dậy, không chạy nhẩy, không cả vào nhà vệ sinh.

Làm sao mà người ta lại có thể già đi được đến như vậy. Mình chỉ chờ mãi mong mãi sao cho đến ngày Tết để được lớn thêm một tuổi, mà thấy như Tết ở đâu tít xa không bao giờ đến.

Thẫn thờ thu mình ngồi bên ngổn ngang cổ vật im lìm, nhìn mấy cụ già gật gù bất động, tôi lơ mơ nhận ra rằng, bên ngoài cuộc sống của cái gia đình bé nhỏ của mình, còn có những lối sống khác, vừa xa lạ lại vừa thật là khó hiểu.

Rồi xong, về già mình cũng sẽ như các cụ thế ư, nghĩ vậy tôi hơi rùng mình.

Và rồi chỉ còn có chú chim sáo nhảy nhót vui đùa là làm cho tôi thấy bớt se sắt trong lòng.

Nghe bà tôi kể, lúc đầu con sáo cũng phải bị nhốt trong lồng. Một ngày sổ lồng, nó bay đi mất. Thế rồi đến tối lại thấy nó về. Có lúc nó bay ra cả cành cây ngoài đường, bay tít ra đến cây đa giữa phố, nhưng rồi nó lại quay về, không biết vì sao.

Còn bà Cả Đào vừa cười vừa bảo, nó nghiện mất mùi thuốc phiện của ông mất rồi. Trên gác có căn gác xép, có đủ bàn đèn, đủ thuốc cho ông và các bạn ông. Chả cứ con sáo. Nếu có mở lồng, cả đám họa mi, chim khướu cũng chẳng bay đi. Đến như bà đây, vắng nhà mấy bữa đã thấy nhơ nhớ, thì ra nhớ mùi khói thuốc, nó ám vào tường vào chăn vào chiếu mất rồi. Thoang thoảng nhưng thấm thật sâu, người ngoài ai không tinh mũi, chẳng thể nhận ra.

Thế đấy, con sao tinh khôn, tinh mắt tinh mũi, nó là cánh chim đầu tiên sà xuống tâm hồn thơ ấu Hà Nội của tôi. Và cùng với bao nhiêu những cánh chim khác nữa, Hà Nội của tôi hiện dần lên trong ký ức với những sắc mầu khác lạ, thân quen.

Kỳ tới: Những cánh chim đầu tiên

  • Hoàng Đại Dương

 

.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.