Nhân chuyện mồng Ba Tết thầy

16/02/2010 08:33:22

- “Mồng Một Tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba Tết thầy” là câu nói nằm lòng của ông bà ta xưa, thể hiện truyền thống văn hóa uống nước nhớ nguồn. Tuy nhiên, ngày nay mấy ai mồng Ba tân niên đến chúc Tết  thầy cô, đã có Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 vừa mới chúc và cả mừng nữa rồi mà!

Đúng vậy. Nói mãi chuyện muôn năm cũ có thể gây phản cảm. Là giáo viên, lại càng không nên nói chuyện này. Vì vậy mà tôi đã mấy lần từ chối. Nhưng lần này thì chối không được, đành bộc bạch vài cảm nghĩ, có điều gì thất thố, xin được châm chước.

Trước hết, riêng về tập tục “mồng Ba Tết thầy”  thì bản thân có trên bốn chục năm gắn bó với nghiệp thầy, được không ít học trò cũ có lòng quý mến và vẫn nhớ tới dù đã mấy chục năm trôi qua, tôi khẳng định rằng riêng trường hợp tôi, họa hoằn mới có trò cũ ghé qua thăm vào ngày mồng Ba Tết. Đại đa số còn lại không đến được không phải vì “vô ơn bạc nghĩa” mà đơn giản chỉ vì người ta còn biết bao nhiêu nơi phải viếng thăm, biết bao nhiêu việc phải làm trong mấy ngày Tết ngắn ngủi. Hơn nữa chính các thầy cô giáo mồng Ba Tết cũng chẳng mấy người có nhà!

Vì thế, tôi cho rằng nếu như có lòng nhớ tới những người đã có công dạy dỗ mình thì đến thăm vào Ngày Nhà giáo Việt Nam, chắc chắn thầy trò sẽ được hàn huyên thoải mái (mà đó mới là niềm hạnh phúc – được biết học trò mình thành đạt ra sao), chứ không phải vội vội vã vã, sấp sấp ngửa ngửa, hoặc mình phải đi nữa, hoặc thầy cô phải cáo lỗi để còn đến ai đó là bề trên trong họ hàng. 

Nhắc đến chuyện “mồng Ba” chẳng qua tôi muốn chia sẻ đôi điều suy tư về đạo thầy trò.

Báo đài, cha mẹ học sinh, rồi đến cả không ít vị giáo viên nữa, đều kêu ca nhiều về sự sa sút của tình nghĩa thầy trò, sự mất dần của truyền thống “tôn sư, trọng đạo” tốt đẹp của dân ta. Người đổ lỗi tại học sinh ngày nay hư. Người bảo tại phụ huynh ngày nay thực dụng. Người lại vội khái quát rằng đạo thầy trò vượng sao được khi đạo đức chung trong xã hội suy: làm giả ăn thật, nghĩ một đằng nói một nẻo và nói một đằng làm một nẻo, mua chức chạy quyền, quan to quan bé tham nhũng tham ô mà vẫn nhởn nhơ ngồi trên chốc pháp luật v.v. và v.v...

Đều có phần đúng cả. Nhưng tôi xin hỏi: trò hư xưa không có ư? Phụ huynh xưa không quan tâm đồng tiền bát gạo bỏ ra sao cho đáng ư? Các căn bệnh trầm kha trong xã hội và bộ máy công quyền ư? Đời nào chẳng có!

Vậy mà người ta hay nhắc đến đạo thầy trò đời xưa hình như tốt đẹp hơn nay để theo thói thường lấy xưa chê nay. Sao không dám nêu những tấm gương ngày nay có những người thầy, trong một thời mới qua thôi, vì lý do “tế nhị” bị bỏ quên trong nghèo túng, thậm chí bằng cơ chế trừng phạt bị triệt đường sinh nhai, thì chính các trò cũ đã cùng nhau lặng lẽ hỗ trợ bằng cách này cách khác, kể cả cách lén nhét dưới khe cửa nhà thầy chút tiền mọn gói trong giấy báo.

 

Ảnh minh hoạ: IE
... Mồng Ba Tết thầy. Ảnh minh hoạ: IE



Riêng tôi chưa phải trải qua cái cảnh khó khăn vật chất ấy, nhưng có lúc nhất thời (đó là năm 1984, hai năm trước Đổi mới) chịu khó khăn lớn về tinh thần, khiến không phải một lần đã nảy sinh ý nghĩ tiêu cực muốn từ bỏ đấu tranh cho lẽ phải để được yên thân.

Nhưng may mắn thay, tôi được cảm nhận sự ủng hộ to lớn bằng tình cảm thầy trò. Trong cuộc họp toàn khoa đề cử Nhà giáo nhân dân - Nhà giáo ưu tú đợt ấy, tôi xin rút lui và đề cử một đồng nghiệp khác vì biết chắc mình sẽ bị loại bởi cái Hội đồng của Ban giám hiệu gian lận tuyển sinh mà tôi đang tố cáo, như vậy sẽ thiệt cho một tập thể khoa giảng dạy tốt. Nhưng một học trò cũ, đã trở thành đồng nghiệp trong khoa lại là Bí thư chi bộ, ngồi hàng ghế sau, nói nhỏ vào tai tôi, một giáo viên ngoài Đảng: “Xin thầy đừng rút. Chúng em chỉ còn cơ hội phiếu kín để biểu lộ thái độ đồng tình với việc làm của thầy”.

Kết quả kiểm phiếu: mặc dù mọi người thừa biết tôi sẽ bị Hội đồng nhà trường loại thẳng cánh, gần như cả khoa vẫn đề cử tôi là Nhà giáo nhân dân, chỉ có 4 phiếu đề cử Nhà giáo ưu tú, không một phiếu trắng.

Nước mắt tôi như muốn trào ra. Tôi hiểu mình chưa xứng đáng đến vậy với lòng tin yêu của đồng nghiệp và học trò. Vài hôm sau tôi vừa bước vào lớp, học trò đứng dậy chào xong, ngồi xuống, riêng lớp trưởng vẫn đứng, nói: Chúng em chúc mừng thầy và tin rằng lẽ phải mà thầy bảo vệ sẽ thắng! Quá xúc động, tôi chỉ nói được “Cám ơn các bạn nhiều”, rồi lấy câu thơ của Phùng Quán: Có những phút ngã lòng / Tôi tựa vai học trò trụ vững.

Nhắc lại chuyện đã qua, tôi chỉ muốn nói: đạo thầy trò thời nào cũng có, chỉ có cách thể hiện thì mỗi thời mỗi khác mà thôi.

Còn nếu như nói đạo thầy trò sa sút thì phải tìm ra nguyên nhân mới mong chấn chỉnh được. Nguyên nhân cần tìm hiểu toàn diện, không nên đổ hết lỗi cho một phía nào, cái kiểu người ta lâu nay thường trăm tội đổ cho dân trí thấp và gần đây thành câu cửa miệng là “Không thấy báo cáo lên”, “Chúng tôi không biết gì”.

Tôi thiết nghĩ về thực trạng đạo thầy trò chưa ổn, chưa được như chúng ta mong muốn thì có nguyên nhân cả từ phía thầy trò, cả từ phía xã hội và, sau nữa là – xin làm theo tinh thần Đại hội VI của Đảng “Nhìn thẳng sự thật và nói sự thật” – cả từ phía Đảng và Nhà nước. Nhưng ông cha ta dạy: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nên xin mạn phép nói về ông thầy trước.

Xưa kia, ngoại trừ một số ít học quan do triều đình bổ nhiệm, những đốc học, giáo thụ, trợ giáo tại Quốc tử giám, các trường công hàng tỉnh, hàng phủ huyện, còn đại đa số người lập thân bằng nghề dạy học là do tự mình lựa chọn. Lựa chọn rồi, có “lập”, tức đứng vững được trong nghề thầy hay không là do sự không ngừng tu dưỡng đạo đức và học vấn của bản thân ông thầy mà được xã hội công nhận.

Thần Siêu (phó bảng Nguyễn Văn Siêu), khi năm 1834 (chứ không phải 1853, như một số nhà Hà Nội học viết!) dựng Phương đình (ngôi đình hình vuông) dạy học, đã nguyện với bạn hữu đồng tâm Vũ Tông Phan, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Lý... tu dưỡng theo lý tưởng “phương chính” (làm người ngay thẳng, chân chính) của người làm thầy:

                        Cố  tri viên thị trí

                        Nguyện thủ phương vi hình

(Vốn biết tròn là khôn ngoan / [Nhưng] nguyện giữ vuông làm khuôn mẫu)

Bởi lẽ chỉ có vuông vắn mới thẳng một hướng mà dịch chuyển, tròn thì lông lốc lăn khắp phía!

Chẳng những làm thơ để nói cái chí của mình (thi dĩ ngôn chí dã) thầy đồ Nguyễn Văn Siêu lấy luôn hai chữ “Phương Đình” làm tên hiệu (người đời thường gọi “Phương Đình tiên sinh”), thể hiện cái quyết tâm của mình cùng các đồng chí làm người thầy phương chính và đào tạo học trò trở thành những con người phương chính.

Ngày nay không ít giáo viên không giữ được phương chính, nên học trò không tôn trọng mà chỉ sợ, do những người ấy, tốt nghiệp sư phạm thì nghiễm nhiên được đặt ở vị thế làm thầy, nhưng về thực chất không thường xuyên tu thân theo đạo phương chính nên chưa phải là người thầy mà chỉ là những công chức ăn lương giáo dục. Những người không phương chính ấy lại mặc nhiên được trao quyền định đoạt vận mệnh học trò. “Thử thách bằng quyền lực là thử thách khắc nghiệt nhất”, họ thường không vượt qua được, dễ sa ngã, khiến học trò chỉ có thể khinh bỉ, ngấm ngầm hoặc công khai. 

Làm con người phương chính, nhưng chỉ vị kỷ, tức chỉ sống vì mình thôi, có thể chỉ được học trò và phụ huynh, nói rộng hơn là xã hội, cũng chỉ tôn trọng cho phải đạo mà thôi. Chữ “thầy” xưa là chữ tôn xưng của cả cộng đồng, bởi vì ông thầy xưa luôn sống chết với cộng đồng và có trách nhiệm với cộng đồng.

Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện có lẽ là người đầu tiên, từ năm 1962, phát hiện đặc điểm này của các thầy đồ xưa mà ông gọi là “Nho sĩ bình dân”, đối lập họ với “Nho sĩ quan lại”.

Truyền thống văn hóa đó đến đầu thế kỷ XIX được tổ chức “phi chính phủ” đầu tiên của trí thức Nho học đất Việt là hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn kết tinh thành tư tưởng “trung với dân” và “nghĩa vụ của người quân tử là lo cho dân” (TS Vũ Tông Phan: Văn bia ở miếu Thần Hỏa, 30 Hàng Điếu) và hành động từ bỏ quan trường, trở về “làm quân tử trong làng, làm thầy đồ trong xã” (TS Nguyễn Văn Lý: Văn bia ở Văn chỉ Thọ Xương, Ngõ Văn Chỉ - Bạch Mai).

Tư tưởng này và hành động này phát triển thành cả một luồng tư tưởng giáo dục phi chính thống, với cả một mạng lưới các cơ sở văn hóa - xã hội trong khắp xã thôn là các thục xá, đền chùa, với cả một đội ngũ ông đồ có tinh thần “trung với dân” và sẵn sàng “lo cho dân”, giúp cho các phong trào Duy tân - Đông Kinh nghĩa thục vừa mới được các ông đồ Lương Văn Can, Nguyễn Sinh Sắc và Ngô Đức Kế chuẩn bị trong cuộc hội kiến ở Hà Nội năm 1903, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi động ở Quảng Nam - Đà Nẵng năm 1904, đã lập tức bùng phát trong cả nước, và cuối cùng, mùa Xuân 1907 Đông Kinh nghĩa thục xuất đầu lộ diện giữa Hà Nội - thủ phủ Đông Dương, khiến chính quyền thực dân Pháp khi hiểu ra thì kinh ngạc, trở tay không kịp!

Chẳng phải ngẫu nhiên từ năm 1969 Bộ trưởng - Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đã dũng cảm nêu vấn đề cần nghiên cứu vai trò của các ông đồ Nho học cùng những ngôi trường của họ đối với việc duy trì rường mối đạo lý xã hội và trong công cuộc đấu tranh giữ nước. Tinh thần cộng đồng, tư tưởng “trung với dân” và “lo cho dân”, cái ngày nay gọi là tinh thần công dân là phẩm chất không thể thiếu của người thầy. Chính phẩm chất đó khiến cho học trò và xã hội ngưỡng mộ và kính nể, thậm chí có những người được tôn sùng.

Nhà cách mạng Phan Bội Châu nghe tin thầy mình mất, từ nơi xa gửi về viếng ông đồ Nho học Nguyễn Thức Tự vế đối thâm thúy:
 

Kinh sư dị đắc,

Nhân sư nan tầm.

(Thầy dạy chữ dễ kiếm – Thầy dạy làm người khó tìm)

Tinh thần công dân không thể thiếu đó ở người thầy, nay ra sao nhỉ?

Còn một phẩm chất nữa ở người thầy khiến học trò yêu quý, đó là sự tận tâm, tận lực vì học trò. Về mặt này tôi thực sự cảm phục các anh, các chị giáo viên đi dạy học ở vùng sâu, vùng xa. Họ chịu biết bao vất vả, hy sinh vì học trò. Nhiều người cống hiến trọn tuổi xuân, không được biết đến hạnh phúc lứa đôi, dành cả đời mình cho mấy đứa trẻ nghèo. Đối với họ, TẤT CẢ VÌ HỌC SINH THÂN YÊU không phải là khẩu hiệu treo tường cho đẹp, mà là cuộc sống vất vả ngày ngày.

Nếu như có ai ngày mồng Ba Tết phải được học trò, cha mẹ các em và đặc biệt là quý vị ban, ngành thăm hỏi và tặng quà để tỏ lòng biết ơn của xã hội và của Đảng - Nhà nước thì chính là họ, những người thầy chân chính đáng tôn vinh.
 
Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi

.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.