Nhân lực cho điện hạt nhân chưa sẵn sàng

23/10/2009 13:31:25

- Dự án xây dựng Nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) vào năm 2012 – 2014 và đi vào hoạt động năm 2020 đã được khởi động. Nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, vấn đề nan giải nhất là việc đào tạo nguồn nhân lực.

Nhân lực vừa thiếu, vừa yếu

Từ năm 2006, một quan chức Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho biết Việt Nam sẽ thiếu trầm trọng nguồn nhân lực phục vụ NMĐHN vào 2020 nếu không có đột phá về đào tạo.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Việt Nam mới chỉ có khoảng hơn 600 cán bộ làm việc trong ngành hạt nhân, phần lớn là cán bộ của Viện Năng lượng Nguyên tử. Số cán bộ của Viện trong 10 năm qua lại suy giảm khoảng 20%.

Mô hình nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Ảnh: Varans
Mô hình nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận (Ảnh: Varans).

Nói riêng về nhóm chuyên gia, hiện Viện có 400 người. Nếu kể tất cả các đơn vị khác nữa, có thêm khoảng 200 chuyên gia, nhưng đang theo chiều hướng bị già hóa, tuổi trung bình của cán bộ Viện là 45, hầu như không có cán bộ giỏi dưới 35 tuổi để đi đào tạo tại nước ngoài.

Một vấn đề nữa là số nhân lực này lại chưa phải là các chuyên gia, kỹ thuật viên về điện hạt nhân và nếu muốn sử dụng họ cho điện hạt nhân thì cũng phải đào tạo lại, nhưng việc này lại không đơn giản.

Các chuyên gia đầu ngành về hạt nhân đều đã ở độ tuổi 70, đã nghỉ hưu, nên họ hầu như không tham gia vào việc xây dựng chương trình điện hạt nhân và dự án NMĐHN Ninh Thuận.

Theo tính toán, để vận hành an toàn NMĐHN đầu tiên của VN thì cần tới khoảng 550 người, trong đó, số chuyên gia kỹ thuật cao vận hành lò là khoảng 10 - 15 người. Số còn lại, sẽ gồm các chuyên ngành khác.

Việt Nam cũng cần khoảng 150 người đảm nhận các khâu kỹ thuật. Trên đây họ tính “khiêm tốn” cho một lò phản ứng (dự kiến là 4 lò phản ứng) và những con số này chắc chắn cao hơn nhiều vì chúng ta không phải “thần thánh” mà số lượng nhân lực lại ít hơn các nước “sừng sỏ” về ĐHN.

Giáo sư Cao Chi - Giáo sư đầu ngành về điện hạt nhân ở Việt Nam đã cho rằng, trong đội ngũ quản lý, kỹ sư và vận hành nhà máy, đội ngũ kỹ sư được coi là quan trọng và đào tạo nhiều thời gian nhất. Nhưng ở nước ta hiện nay, cả ba đội ngũ này đang rất thiếu.

Chương trình đào tạo lạc hậu, nặng lý thuyết

Hiện Việt Nam có 5 đại học tham gia đào tạo ngành và chuyên ngành về hạt nhân: ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) và ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia TP HCM), ĐH Đà Lạt, ĐH Điện lực. Nhưng số lượng giảng viên chỉ có 3 PGS. TS, 9 tiến sĩ, 21 thạc sĩ, 15 kỹ sư, cử nhân.

Nhà máy điện hạt nhân Tricastin ở Bollene, miền nam nước Pháp. Ảnh: Varans
Nhà máy điện hạt nhân Tricastin ở Bollene, miền nam nước Pháp (Ảnh: Varans).

Ngoài ra còn có Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đào tạo trình độ tiến sĩ Vật lý hạt nhân, Viện Vật lý và Điện tử, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Vật lý hạt nhân.

Mặc dù vậy, các chương trình đào tạo còn nặng tính lý thuyết, ít thực hành, chưa cập nhật thường xuyên các kiến thức về khoa học và công nghệ hạt nhân trên thế giới.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị để đào tạo chuyên ngành hạt nhân rất thiếu và lạc hậu. Điển hình, cả nước chỉ có một lò phản ứng hạt nhân công suất 500KW thuộc sự quản lý của Viện nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đưa vào từ năm 1963.

Chưa có  2.400 nhân lực cho 2 nhà máy

Hai NMĐHN đầu tiên ở Việt Nam có công suất 2.000 MW sẽ được xây dựng tại xã Phước Dinh (huyện Ninh Phước) và xã Vĩnh Hải (huyện Ninh Hải) của tỉnh Ninh Thuận. Nhà máy này có diện tích trong hàng rào là 400 ha.

Theo khuyến cáo của Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Tập đoàn Điện lực Pháp (EDF)... nhân lực cần cho nhà máy điện hạt nhân công suất 2.000 MW là khoảng 1.000 người có trình độ ĐH, CĐ.

Nhân lực công nghệ hạt nhân của VN còn hạn chế. Ảnh: Lao Động
Nhân lực công nghệ hạt nhân của VN còn hạn chế. (Ảnh: Lao Động)

Ở Việt Nam, để tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu bảo dưỡng nhà máy an toàn cần 1.200 người có trình độ đại học. Như vậy, nhân lực cho 2 nhà máy điện là chừng 2.400 người.

Ngoài số nhân lực phục vụ trực tiếp cho nhà máy, cần có thêm 350 người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các chuyên ngành luật và pháp quy hạt nhân, chuyên gia nghiên cứu và phát triển... phục vụ nghiên cứu, quản lý và vận hành, khai thác đảm bảo an toàn cho nhà máy điện hạt nhân.

Với tốc độ đào tạo hiện nay (mỗi năm được 70 kỹ sư, cử nhân và 20 thạc sĩ, tiến sĩ), đến năm 2020 cả nước mới cho ra lò 700 kỹ sư, cử nhân và 200 thạc sĩ, tiến sĩ. Như vậy, cần đào tạo thêm 2.000 kỹ sư, cử nhân và 100 thạc sĩ, tiến sĩ.

Được biết, Bộ GD&ĐT đã có đề án trình Thủ tướng Chính phủ về xây dựng chương trình đào tạo hạt nhân trong các trường đại học. Dự kiến quý 2/2009 sẽ triển khai. Viện Viện Năng lượng Nguyên tử cũng trình Bộ KH&CN đề án thành lập Trung tâm đào tạo kỹ sư về công nghệ điện hạt nhân để cùng với các trường đại học tạo ra một hệ thống liên thông. 

Theo Giáo sư Đặng Vũ Minh, Chủ nhiệm Ủy Ban KHCN&MT của Quốc hội: “Sau khi đã tốt nghiệp, không dưới 5 năm mới có thể đảm đương các công việc, áp dụng kiến thức giải quyết các tình huống phức tạp xảy ra trong nhà máy điện nguyên tử. Vì vậy ngay từ bây giờ, cần cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài”.

  • PV (tổng hợp)
.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.