Kéo dài cho vay hỗ trợ lãi suất: "Không cần thiết"
- Theo ông Vũ Đình Ánh - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), việc kéo dài gói kích cầu hỗ trợ lãi suất ngắn hạn 4% như hiện nay là không cần thiết.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Quy định mâu thuẫn
![]() |
| T.S Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính) |
Theo ông Ánh, việc tiếp tục kéo dài hỗ trợ lãi suất nguồn vốn vay ngắn hạn đến hết quí I/2010 và hỗ trợ các nguồn vốn vay trung hạn, dài hạn đến hết năm 2010 không hẳn là gói kích cầu hai.
Thực chất tổng số vốn của gói kích cầu thứ nhất là 145 nghìn tỷ đồng, đến thời điểm này mới sử dụng hơn 100 nghìn tỷ đồng nên việc kéo dài là để thực hiện nốt số còn lại.
Mặt khác, kích cầu hỗ trợ lãi suất chỉ là một phần nhỏ (khoảng 15%) trong gói kích cầu 145 tỷ đồng. Hỗ trợ lãi suất chỉ làm giảm chi phí về vốn, kích thích về sản xuất. Trong khi đó kích cầu là kích thích về tiêu dùng, đó mới là vấn đề của nền kinh tế VN. Như vậy, bản chất của hỗ trợ lãi suất không phải là kích cầu.
Ngay trong nội dung gói kích cầu 131, theo ông Ánh đã có những mâu thuẫn giữa thời hạn vay và thời hạn trả. Thời hạn cho vay vốn lưu động ngắn hạn với lãi suất 4% sẽ chấm dứt vào ngày 31/12/2009, thì đó là ngày chấm dứt cho vay hay ngày phải trả.
"Là một chuyên gia kinh tế nhưng từ trước đến giờ, tôi vẫn hiểu đó là thời hạn cho vay. Tuy nhiên, việc kéo dài gói kích cầu vừa rồi của Chính phủ, chứng tỏ đó là thời hạn phải trả. Vì nếu thời hạn cho vay kéo dài đến hết quý I/2010, tức là vay và trả trong 3 tháng cũng không giải quyết được gì", ông Ánh cho biết.
Bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Gói kích cầu hỗ trợ lãi suất được trên 400 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng gần 1/4 trong tổng tín dụng của nền kinh tế, tức là 3/4 tổng tín dụng của nền kinh tế không được hưởng hỗ trợ 4%, mà họ vẫn phải vay như bình thường.
![]() |
| Hỗ trợ lãi suất chỉ kích thích được sản xuất, chưa kích thích được tiêu dùng. Ảnh: VNN. |
Hỗ trợ lãi suất trên thực tế cũng chỉ có 1/5 số doanh nghiệp được hưởng. Điều đó đã tạo ra bất bình đẳng rất lớn giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa những người vay được hỗ trợ lãi suất và vay không được hỗ trợ lãi suất, trong khi chênh lệch lãi suất 4% là quá lớn.
Gói kích cầu 131 chỉ hạn chế một số ngành không được vay như: Giáo dục đào tạo vì sử dụng ngân sách nhà nước, tài chính ngân hàng, hay bất động sản. Còn gần như không cấm ngành nào, vì vậy tại sao lại chỉ có ngần ấy doanh nghiệp được vay?
Hiện nay, trần lãi suất là 10,5%, tức là nếu có hỗ trợ lãi suất thì chỉ vay tối đa ở mức 6,5%. Trong khi lãi suất lưu động, có những ngân hàng đã đẩy lên 8 - 9%, thậm chí là 10%. Như vậy, người có ưu đãi còn được vay thấp hơn cả lãi suất lưu động của hệ thống tài chính. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng nhiều người sẽ tìm cách chạy những ưu đãi và sử dụng không đúng mục đích.
Còn chuyện kéo dài hỗ trợ lãi suất để giảm sốc cho các doanh nghiệp thì rất vô lý, vì chỉ cho 1/5 số doanh nghiệp và 1/4 số tín dụng được hưởng ưu đãi, còn phần lớn số doanh nghiệp họ không chịu ảnh hưởng của việc hỗ trợ lãi suất.
“Theo tôi, sốc hay không là do chúng ta đã đặt ra mức hỗ trợ quá lớn lên đến 4%. Khi nền kinh tế đã hồi phục thì các doanh nghiệp tồn tại hay không đó là vấn đề về cạnh tranh để chọn lọc”, ông Ánh nhấn mạnh.
Áp dụng tự do lãi suất
"Nếu khẳng định nền kinh tế đã phục hồi rồi, thì phải cắt bỏ những biện pháp hỗ trợ lãi suất như thế vì nó mang tính khẩn cấp và cấp bách, nên đưa sang những biện pháp mà mang tính dài hạn và chung cho cả nền kinh tế giống như các nước đã làm".
Nới lỏng tiền tệ, căn cứ vào lạm phát để điều chỉnh lãi suất cơ bản hay quay lại trạng thái bình thường, tức là không quy định trần tín dụng mà quay lại lãi suất thỏa thuận giống như trước đây đã áp dụng, còn lãi suất trần này áp dụng từ năm 2008 và hồi đó là để chống lạm phát.
Bây giờ nếu lạm phát không còn dấu hiệu nguy hiểm, tức là không còn trong tình trạng lạm phát nữa thì nên quay lại chế độ cũ, để cho các ngân hàng chủ động trong vấn đề lãi suất thỏa thuận, tức là theo đúng tự do của lãi suất.
Nếu Ngân hàng Nhà nước có can thiệp vào chính sách thì nên hạ lãi suất cơ bản xuống chung để cho cả nền kinh tế được hưởng lợi chứ không phải là cho một nhóm được hưởng lợi mà chưa biết họ có đáng được hưởng lợi hay không.
Cần cơ cấu lại nền kinh tế từ tất cả các cấp độ, cơ cấu lại chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chú ý lại hiệu quả là then chốt cho cạnh tranh.
Nguyễn Yến (thực hiện)

