Người đầu tiên bật đèn đỏ đề nghị ngưng Đề án 112

13/01/2010 14:38:16

 

- Tại Sở Bưu chính Viễn thông TP. HCM, ông Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở Bưu chính Viễn thông TP. HCM cho chúng tôi xem một tập tài liệu trong đó có đến 40 văn bản các loại của Sở, gửi lên UBND TP và các cơ quan chức năng để báo cáo và kiến nghị về các vấn đề của Đề án 112. Sau đây là cuộc trao đổi người đầu tiên “bật đèn đỏ” đề nghị ngưng đề án này được thực hiện vào tháng 4/2007, ngay khi vụ việc mới được dư luận biết đến.

TP. HCM không kế thừa gì từ Đề án 112

Ông Lê Mạnh Hà
Giám đốc Sở BCVT TP.HCM Lê Mạnh Hà. Ảnh VNN

Sở Bưu chính Viễn thông TP.HCM (nay là Sở Thông tin Truyền thông TP.HCM) là đơn vị đã lên tiếng đầu tiên, liên tục và quyết liệt có những phản đối về đề án này. Vậy câu chuyện bắt đầu từ đâu?

Sở Bưu chính Viễn thông được thành lập tháng 10/2004. Ngay từ năm 2004 đến các năm sau, Sở đã liên tục có nhiều công văn gửi lên UBND TP và các cơ quan chức năng, trước tiên là đề nghị tạm ngưng triển khai trên diện rộng 3 phần mềm dùng để đánh giá và sau đó đề nghị ngưng hẳn.

Tôi cũng đã từng tuyên bố TP. HCM không tiếp tục triển khai Đề án 112, trên thực tế đúng là như vậy. Có thể nói chúng tôi đã đúng khi triển khai xây dựng chính phủ điện tử theo hướng riêng của thành phố. Đến nay kết quả đạt được rất khả quan, Thành phố hiện là đơn vị đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin.

Tại sao tình trạng đó kéo dài trong nhiều năm mà không có biện pháp kịp thời?

Chúng tôi đã phát hiện thấy những điểm sai về pháp lý, về tài chính, về chuyên môn và đã nhiều lần báo cáo thành phố. Chúng tôi đã từng mời Ban chỉ đạo 112 vào để thảo luận những điểm sai này. Nhưng không ai vào.

Các địa phương có thể vui mừng vì có dự án, có tiền. Nhưng để nhìn thấy những điểm sai không nhất thiết phải giỏi về công nghệ thông tin?

Nhất thiết là phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Nhưng những người ủng hộ BĐH 112 lại có lập luận: đây là lĩnh vực mới, không thể áp dụng theo những qui định hiện hành về đầu tư hay xây dựng. Cần phải sinh ra những cái mới. Nhưng vấn đề là “cái mới” lại bị sai và thậm chí làm chậm lại tiến độ thực hiện các dự án.

Đại biểu Hội đồng nhân dân TP. HCM đã có lần chất vấn: Tại sao Sở Bưu chính Viễn thông TP. HCM đưa nguyên những quy định về quản lý đầu tư và xây dựng để áp dụng vào quản lý đầu tư cho công nghệ thông tin, như thế là cứng nhắc? Chúng tôi có văn bản giải trình: Làm như thế là đúng, áp dụng những quy định về đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin là đúng, là có lợi cho cả chủ đầu tư, tư vấn và đẩy nhanh được tiến độ triển khai.

Ba phần mềm dùng chung gồm
Ba phần mềm dùng chung gồm "Hệ thống thông tin tổng hợp kinh tế xã hội", "Trang thông tin điện tử phục vụ điều hành" và "Hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc" được Ban điều hành Đề án 112 trưng bày trong buổi lễ giới thiệu về "thành quả bước đầu đạt được" của Đề án ngày 9/9/2005. Đây là những phần mềm Sở BCVT TP. HCM đã có công văn đề nghị tạm ngưng triển khai trên diện rộng để đánh giá và sau đó đề nghị ngưng hẳn. Ảnh VNN

Riêng TP. HCM đến nay có thể kế thừa gì từ những “thành quả” của Đề án 112?

Hầu như không có gì kế thừa. Ngay cả trung tâm tích hợp dữ liệu cũng không có, vì từ rất sớm chúng tôi đã chặn việc xây dựng những trung tâm này. Không có dữ liệu thì có trung tâm tích hợp làm gì được? Ngay cả thành phố còn chưa có dữ liệu thì các tỉnh làm sao có. Cái mà BĐH 112 thành phố vẫn tự hào là Cityweb thì cũng là sản phẩm của Sở KH&CN.

Tất nhiên, như đã nói ở trên, bài học từ thất bại là rất quý. Thành phố cũng đã rút ra các bài học từ sai phạm của Đề án 112 từ hơn 2 năm trước và đã kịp thời chuyển sang hướng khác.

Đề án này rất khó quyết toán kinh phí và theo tôi là không thể quyết toán được vì các lý do sau:
 
1. Kinh phí hàng năm chưa được Chính phủ phê duyệt, trừ năm 2002.
 
2. Hợp đồng kinh tế không hợp lệ. Hàng ngàn hợp đồng kinh tế được ký giữa Ban Điều hành (BĐH) 112 và các đơn vị xây dựng, triển khai phần mềm và đào tạo là các hợp đồng không hợp lệ do BĐH 112 không có tư cách pháp nhân và cũng không được giao ký hợp đồng kinh tế.
 
 Như vậy, các công ty, các đơn vị đào tạo đã ứng tiền để tổ chức đào tạo, để triển khai phần mềm thì không thể thanh toán được. Các đơn vị đã nhận được tiền ứng trước của BĐH 112 cũng không thể quyết toán được. Điều này tất yếu dẫn đến thiệt hại cho các đơn vị này và họ sẽ phải kiện để bảo vệ quyền lợi của mình.
 
 Trưởng BĐH không những phải chịu trách nhiệm về tài chính mà phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của đề án. Không thể không có ai chịu trách nhiệm hoặc không bị xử lý cho thất bại và thất thoát lớn đến như vậy.

Một trong các bài học là phải tuân thủ quy định hiện hành của pháp luật. Không tuân thủ các quy định về đầu tư sẽ gây thất thoát ngân sách rất lớn.

Quy định về đầu tư áp dụng cho tất cả các ngành, từ xây dựng cầu đường, mua sắm máy bay, và CNTT. Tất cả các ngành đều phải chấp hành.

Đối với các dự án xây dựng, đòi hỏi số lượng rất lớn công việc thiết kế và bản vẽ. Đối với CNTT, do khả năng kết nối và đồng bộ hóa cao của các thiết bị, nên việc thiết kế hệ thống đơn giản hơn rất nhiều, nên chỉ áp nguyên chi phí thiết kế như của ngành xây dựng đã là cao.

Tại sao ông lại là người lên tiếng trước?

Các ý kiến phản hồi trên báo chí đã nêu rất nhiều điểm sai phạm trong thực hiện đề án 112. Tuy nhiên dường như chưa có một cái nhìn tổng quan về toàn bộ đề án?

Thực ra nếu đây là một dự án cầu đường, trường học hay bệnh viện thì câu chuyện đã rất sôi động, vì nhiều người cùng nhìn thấy. Nhưng đề án 112 thuộc về CNTT là lĩnh vực mới nên khó thấy hết được. Không nên chỉ đánh giá đề án qua góc nhìn của người làm khoa học, công nghệ. Đây là bài toán về quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ tiên tiến, nên phải đánh giá từ quan điểm của nhà quản lý trong lĩnh vực chuyên môn này.

Bao nhiêu người trong ngành và ngoài ngành cũng biết về đề án này, tại sao lại là chính ông lên tiếng trước tiên, mặc dù Sở BCVT được thành lập vào cuối năm 2004, thời gian mà theo kế hoạch đề án chỉ còn 1 năm nữa để hoàn thành giai đoạn 1?

Lúc đầu những cộng sự của tôi - là những người đã tham gia đề án 112 từ trước khi thành lập Sở - có nói nên tránh đề án này vì họ “kinh khủng” lắm. Mới nhận nhiệm vụ nên tôi nghe cũng có lý nhưng chỉ sau khoảng 1 tháng từ khi được bổ nhiệm Giám đốc Sở tôi quyết định là phải “đánh”. Ngày 17/12/2004 Sở mới chính thức ra mắt và đi vào hoạt động nhưng văn bản của đầu tiên đánh giá và kiến nghị về đề án 112 được gửi ngày 16/12/2004.

Nhiệm vụ chính của Sở được Nhà nước giao là quản lý nhà nước trong CNTT và xây dựng cũng như triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT. Trong khi đó BĐH 112 lại “ôm” hầu hết các dự án CNTT. Chúng tôi đã phát hiện ra một loạt các bất cập và sai phạm của BĐH 112. Nếu mình không lên tiếng thì các sai phạm này lại tiếp tục và sẽ là hòn đá cản đường CNTT.

Chúng tôi không chỉ lên tiếng mà còn đưa ra cách làm mới được TP chấp thuận và đã tạo ra bước đột phá trong ứng dụng CNTT của thành phố. Chúng tôi không chỉ nói mà còn làm và làm có hiệu quả. Tôi xác định: nhiệm vụ của mình mà mình không làm được thì thà thôi làm Giám đốc Sở để làm việc khác có ích hơn.

Tiên phong đi trước trong cuộc đấu tranh với đề án 112, ông có nhiều lo ngại vì “đấu” với cấp cao hơn và lại thuộc Văn phòng Chính phủ? Có ai đó cho là ông giành công việc về cho Sở của mình?

Tất nhiên là rất khó khăn và cực kỳ căng thẳng. Tôi đã từng phát biểu tại hội nghị của Bộ BCVT: khi làm ở quận Bình Thạnh tôi đã từng chỉ huy giải toả hàng trăm căn nhà xây dựng lấn chiếm đất công, hàng trăm người bị giải tỏa kéo đến nhà tôi chửi bới đe doạ, tôi phải chịu đựng hết. Nhưng những căng thẳng đó không thể so sánh với căng thẳng và khó khăn khi “giải toả” đề án 112.

Không phải là giành việc mà là làm đúng công việc của mình. Tôi đấu tranh để công việc của ngành CNTT phải do ngành CNTT thực hiện. Nếu để cho một đề án CNTT thực hiện một cách sai phạm mà Sở BCVT không xử lý thì cá nhân giám đốc Sở phải chịu trách nhiệm.

Các phát hiện và báo cáo của Sở Bưu chính Viễn thông TP. HCM về Đề án 112

1. Thành lập Hội đồng thẩm định không đúng qui định, không khách quan. (Báo cáo ngày 16/12/2004).

2. Thẩm định sai thẩm quyền (Báo cáo ngày 28/12/2004).

3. Giao chủ đầu tư sai quy định (Báo cáo ngày 5/1/2006).

4. Dùng vốn sự nghiệp sai quy định (Báo cáo ngày 5/1/2006).

5. Đầu tư dàn trải, không hiệu quả (Báo cáo ngày 28/12/2004).

6. Bất thường và bất cập trong việc quy định quản lý các dự án thuộc 112 tại TP. HCM (Báo cáo ngày 16/12/2004). Trong đó chỉ ra 4 điểm bất cập về thẩm định, đấu thầu, và qui trình ra văn bản.

7. Trùng lắp trong các dự án của 112 Chính phủ và 112 Thành phố (Báo cáo ngày 16/12/2004).

8. Phần mềm dùng chung kém chất lượng, không hiệu quả. (Báo cáo ngày 12/4/2005).

9. Nhiều bất hợp lý trong chương trình đào tạo của 112 (Báo cáo ngày 25/5/2005).

Theo Bùi Văn - Báo VietNamNet

 

 

.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.