Nên thả nổi việc học ngoại ngữ của sinh viên?
“Vấn đề quan trọng đó là sự nhận thức của sinh viên, giảng viên và những người có liên quan còn việc đổi mới phương pháp dạy và học không thể một sớm một chiều, cần phải có lộ trình”, trao đổi với Bee về giải pháp để việc dạy và học tiếng Anh hiệu quả trong các trường ĐH, CĐ, PSG.TS Lê Kim Long, Phó trưởng ban, Ban đào tạo ĐHQG Hà Nội đã khẳng định như vậy.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Ông nghĩ sao về nhận định: Phần lớn sinh viên khi ra trường không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng về ngoại ngữ?
Theo tôi cần có một con số thống kê xem việc đánh giá của các nhà tuyển dụng thế nào. Tuyển dụng với yêu cầu có trình độ ngoại ngữ nhưng có khi cả năm chẳng dùng đến một lần nào thì yêu cầu làm gì. Nếu nói rằng qua việc phỏng vấn của nhà tuyển dụng đối với những người đến thi tuyển mà kết luận như trên thì e rằng có những điểm võ đoán.
Tôi có thể nói rằng những người giỏi ngoại ngữ không đến tuyển dụng tại những nơi ấy. Tuy nhiên tôi hiểu ẩn ý và lý do mà nhiều người nói như vậy. Cần có tiêu chuẩn về ngoại ngữ cho từng loại hình công việc một chứ không phải có yêu cầu chung cho tất cả SV các ngành.
![]() |
| PGS.TS Lê Kim Long |
Vậy theo ông đâu là nguyên nhân “của trình độ ngoại ngữ của SV không cao”?
Nguyên nhân ở tất cả những người có liên quan: Giảng viên, sinh viên, xã hội, nhu cầu. Tuy nhiên theo tôi “sức ì” của sinh viên Việt Nam quá lớn, họ chưa nhận thức được cần phải thay đổi quan niệm học cho mình và học “vì ngày mai lập nghiệp”. Vấn đề tầm nhìn của sinh viên cũng là điều đáng bàn. Nhiều sinh viên Việt Nam cho rằng ngành nghề của mình không cần đến ngoại ngữ, vì thế học chỉ để đối phó với các kỳ thi. Hoặc đến khi ra trường do yêu cầu của công việc thì mới bắt đầu học ngoại ngữ.
Về phương pháp dạy và học, tuy có nhiều đổi mới, nhưng tập trung nhiều vào 2 kỹ năng “đọc và viết”, còn kỹ năng “nghe và nói” khó có điều kiện để thực hiện như mong muốn.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học ngoại ngữ của chúng ta vẫn chủ yếu tập trung vào kỹ năng đọc hiểu, viết và làm bài tập ngữ pháp, chưa quan tâm đến đánh giá về sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp. Điều này dẫn đến tình trạng sinh viên của chúng ta thường không mạnh trong kỹ năng nghe, nói ngoại ngữ.
Bên cạnh đó, việc xây dựng đội ngũ giảng viên dạy tiếng Anh cũng là một vấn đề cần bàn. Giảng viên dạy tiếng Anh chung thì rất nhiều nhưng dạy thế nào, với yêu cầu ra sao là do yêu cầu của từng trường và từng bậc học. Chuẩn đầu ra về ngoại ngữ cho bậc đại học còn mờ nhạt chung chung. Đào tạo được giảng viên giảng được tiếng Anh chuyên ngành hoặc giảng chuyên ngành bằng tiếng Anh tại các trường ĐH là một việc làm lâu dài và khó khăn.
Có ý kiến đưa ra là: Chỉ cần có một chuẩn chung cho môn ngoại ngữ, ví dụ, sinh viên không cần học ngoại ngữ nhưng ở đầu ra, tất cả SV phải trải qua một kỳ thi và phải giao tiếp được thì mới được tốt nghiệp. Ông nghĩ sao?
Cần phải nói đúng hơn về chuyện học ngoại ngữ bắt buộc. Nên hiểu rằng không học thì không có trình độ. Vì vậy sinh viên có thể không bắt buộc phải học ngoại ngữ trong đúng cơ sở đào tạo mình nhưng cần có một chuẩn ngoại ngữ được sát hạch nghiêm túc.
Ở trường tổng hợp Indonesia, việc học tiếng Anh được coi là việc đương nhiên. SV tốt nghiệp đều có khả năng giao tiếp tốt và sử dụng tiếng Anh chuyên môn tốt. Việc dạy tiếng Anh được tổ chức độc lập với việc đào tạo chuyên môn. Chứng chỉ quốc tế về tiếng Anh được cấp bởi các trung tâm được ủy quyền của các trường Anh, Úc, Mỹ, …. Giảng viên khuyến khích việc học tập và làm bài bằng tiếng Anh (cộng điểm). Đây là một hình thức học ngoại ngữ tốt, nó không chỉ phát huy khả năng viết mà còn làm tăng khả năng tư duy về ngoại ngữ của sinh viên.
Chính sách bắt buộc học ngoại ngữ trong trường ĐH chắc còn phải duy trì thêm vì nhiều lý do: nguồn nhân lực giảng dạy, sự tiếp nối học tiếng Anh từ bậc THPT, … . Nếu “thả nổi việc học ngoại ngữ” cho sinh viên ĐH thì chắc là trình độ ngoại ngữ của sinh viên lại càng tệ.
Tuy vậy yêu cầu bắt buộc về trình độ ngoại ngữ đối với bậc đại học là tốt. Nói cách khác nhất thiết phải có môn ngoại ngữ ở bậc ĐH, vấn đề ở chỗ đổi mới phương pháp dạy và học thế nào để có hiệu quả.
Nếu áp dụng phương pháp này thì Việt Nam cần có những điều kiện gì?
Khi mang các mô hình đào tạo khác vào Việt Nam cần tính đến yếu tố chất lượng đào tạo, tâm lý, ý chí, khả năng tiếp thu, … để có thể thay đổi mô hình phù hợp cho sinh viên Việt Nam. Học được một ngoại ngữ thì học thêm một văn hóa. Văn hóa Việt Nam không thể không bị ảnh hưởng khi trình độ tiếng Anh được nâng cao. Bài học về phổ cập tiếng Anh ở Hàn quốc là một bài học mà Việt Nam cần lưu ý.
Vấn đề quan trọng đó là sự nhận thức của sinh viên, giảng viên và những người có liên quan còn việc đổi mới phương pháp dạy và học không thể sớm một chiều, cần phải có lộ trình.
Được biết hiện ĐHQG đang thực hiện nhiều thay đổi trong việc đào tạo ngoại ngữ?
Đúng vậy, từ năm học 2009-2010 chúng tôi đang thử nghiệm chuẩn đầu ra ngoại ngữ (không chuyên) cho các loại hình đào tạo. Đối với môn tiếng Anh, nếu lấy điểm IELTS để đánh giá, đối với hệ đào tạo chuẩn, Chất lượng cao, hệ đào tạo CNKHTN (Cử nhân khoa học tài năng) và đào tạo trình độ quốc tế nếu sinh viên đạt chuẩn tương ứng 4.0, 5.5 và 6.0 IELTS hoặc tương đương được miễn học ngoại ngữ. Còn nếu sinh viên không đạt được điểm đó thì vẫn phải tiếp tục học và thi ngoại ngữ cho đạt chuẩn.
Xin ông nói rõ hơn về vấn đề này?
Hiện ĐHQGHN đã ủy quyền cho trường Đại học Ngoại ngữ (một trong 6 trường thành viên) trong việc điều phối, chỉ đạo từ khâu nội dung, chương trình giáo trình, nhân lực, kiểm tra và đánh giá đối với bộ môn ngoại ngữ …
Nhận nhiệm vụ này, trường ĐHNN gặp không ít khó khăn và phải cố gắng vượt bậc để có thể vừa tiếp tục các công việc thường xuyên vốn có để khẳng định mình mà còn thực hiện sự liên thông liên kết trong toàn ĐHQGHN. Đây là khâu đổi mới mang tính chuyên nghiệp hóa.
Việc đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ tất nhiên không thể làm một sớm một chiều. Theo ông, cần đột phá vào khâu nào trước?
Có lẽ cần nhất là đột phá vào khâu thay đổi quan niệm và tần nhìn của sinh viên hiện nay về học ngoại ngữ. Hai là quan niệm của các chuyên gia về trình độ ngoại ngữ khi tốt nghiệp. Ba là mạnh dạn giao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo ngoại ngữ sao cho việc đào tạo ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra, chuẩn đầu vào và chuẩn quá trình đào tạo theo quốc tế (cả về tài chính nữa).
Bốn là “ngoại ngữ chuyên ngành” vốn có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng theo cá nhân tôi nên giao việc đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành cho ngành đào tạo và coi đó là một phần của chương trình đào tạo của ngành. Việc dạy này sẽ được giao cho chính GV (đã được chuẩn hóa) của ngành thực hiện.
Bên cạnh đó cần có sự kết hợp giữa chương trình đào tạo từ bậc phổ thông và ĐH về tiếng Anh cơ bản. Các trường cũng nên phân loại sinh viên đầu vào và có chương trình tương thích với từng đối tượng khác nhau. Các ngành cũng cần xác định rõ chuẩn đầu ra của mình đáp ứng yêu cầu của thực tế trong đó có yêu cầu về tiếng Anh.
Xin cảm ơn ông về bài nói chuyện này.
|
Thầy Đoàn Văn Vệ, Trưởng phòng đào tạo trường ĐH Tự Nhiên Hà Nội: Theo đó chúng tôi cũng đề nghị với ban Đào tạo ĐHQG là rút bớt số chương trình học chuyên ngành, để sinh viên có thời gian học tiếng Anh nhiều hơn. Chúng tôi cũng tăng cường đào tạo và bồi dưỡng ngoại ngữ cho giáo viên, đặc biệt là với những giáo viên chuyên ngành. Bước đầu thử nghiệm thì trình độ thi IELTS của sinh viên được 5.5-6.0 chiếm 20%, khoảng 50% dao động từ 4.5-5.0, còn khoảng 30% chưa đạt yêu cầu. |
|
Phạm Vân Hà, Ngân hàng thương mại cổ phần TienphongBank Tôi nghĩ, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, sinh viên nên trau dồi ngoại ngữ, chứ không phải khi đi làm rồi mới bắt đầu học ngoại ngữ để duy trì công việc. Việc làm này gây lãng phí thời gian, tiền bạc và công sức. |
Nguyễn Thị Thu Trang, giảng viên ngoại ngữ ĐH Ngoại ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội Vì đơn giản, bên nước ngoài, sinh viên của họ đã được kiểm định trình độ ngoại ngữ ngay từ hồi phổ thông trước khi đủ điều kiện vào ĐH. Trong khi đó ở nước ta, đa phần học sinh chỉ học ngoại ngữ theo kiểu đại trà, thi cho qua chứ không coi trọng mặt chất lượng, vốn ngoại ngữ thu được. Nguyên nhân là do, sinh viên học với hình thức chống đối còn giáo viên thiếu nhiệt tình, xem việc dạy như nghĩa vụ phải làm. Điều kiện cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị kỹ thuật còn thiếu thốn cũng ảnh hưởng đến việc đào tạo ngoại ngữ. |
|
Nguyễn Thu Hằng, SV khoa Du lịch, ĐH KHXHNV:
Hiện bọn mình đã học được 2 kỳ tiếng Anh chuyên ngành, tuy nhiên đến bây giờ mình vẫn không biết đã thu nhặt được những gì. Giáo trình tiếng Anh bọn mình là của sách của nước ngoài, nó không sát với thực tế của Việt Nam. Bọn mình không được nghe và nói nhiều. Mình dự định đi học thêm một số trung tâm bên ngoài nhưng qua tìm hiểu các trung tâm này thu học phí là chính còn việc học thì cứ mặc kệ học viên muốn học ra sao thì học. Theo mình, để học tốt được tiếng Anh chuyên ngành trước hết là giáo trình phải chuẩn và sát cần thực tế, trang thiết bị thì nên có đầy đủ hơn. Bên cạnh đó, trình độ hiểu và sự nhiệt tình của giảng viên cũng là vấn đề quan trọng. |
Như Phụng - Nguyễn Đóa




