Văn học Nhật: Từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong

01/10/2009 16:02:27

- “Khi chúng ta nói tới quốc tế hóa văn học, đó không có nghĩa rằng văn học thế giới sẽ được thống nhất dưới hình thức của một thứ ngôn ngữ quốc tế. Nếu cho rằng văn học Nhật Bản có xu hướng đi từ trong Nhật Bản ra ngoài Nhật Bản thông qua các bản dịch thì chắc chắn cũng tồn tại xu hướng đi từ ngoài Nhật Bản vào trong Nhật Bản”.

LTS: Khái quát về lịch sử và đặc trưng của văn học Nhật, những thể loại văn học Nhật Bản đã được Giáo sư Mitsuyoshi Numano, ĐH Tokyo trình bày trong cuộc hội thảo kéo dài từ 16-18/9/2009 do Quỹ Giao lưu Văn hóa Nhật Bản phối hợp cùng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức. Bee trích đăng phần kết luận trong bài diễn thuyết của Giáo sư, về mối quan hệ giữa văn học Nhật Bản và văn học thế giới.

“Tôi xin nói một vài lời về mối quan hệ giữa văn học Nhật Bản hiện đại và văn học thế giới thay cho lời kết.

Lúc trước, tôi có trình bày rằng, các tác phẩm của Murakami Haruki đang được đọc ở nhiều nơi trên thế giới thông qua các bản dịch. Nghĩa là, không hề quá lời khi nói rằng văn học của ông không chỉ dành riêng cho người Nhật nữa mà đã được nhiều quốc gia thông qua các bản dịch chấp nhận và trở thành một bộ phận của văn học thế giới.

Hai tác giả Nhật Bản được nhiều bạn đọc Việt Nam biết đến là Y.Kawabata và M. Haruki
Hai tác giả Nhật Bản được nhiều bạn đọc Việt Nam biết đến là Y.Kawabata và H.Murakami.

Tất nhiên, trước Murakami đã có Kawabata Yasunari, Mishima Yukio, Abe Kobo, Oe Kenzaburo được dịch sang nhiều thứ tiếng và nhận được sự đánh giá cao của quốc tế. Kawabata và Oe đã giành giải thưởng Nobel. 

Quá trình hội nhập ra thế giới của văn học Nhật Bản  được cho là vẫn sẽ tiếp tục (Liệu Murakami Haruki có trở thành người Nhật thứ 3 giành giải Nobel văn học không là một mối quan tâm lớn của giới truyền thông Nhật Bản gần đây).

Với cách thức như vậy, khi nói đến quốc tế hóa văn học Nhật Bản, chúng ta dễ chú ý đến xu hướng “từ trong Nhật Bản ra ngoài Nhật Bản” thông qua bản dịch. Điều đó là không sai, song mặt khác, chúng ta không được bỏ qua một hiện tượng xuyên biên giới của ngôn ngữ, đó là người Nhật Bản sáng tác trực tiếp bằng tiếng nước ngoài hoặc người nước ngoài sáng tác bằng tiếng Nhật.

Ví dụ, như tôi đã giới thiệu trong khuôn khổ thơ hiện đại, có những tác giả sáng tác bằng hai ngôn ngữ Đức - Nhật như Tawada Yoko. Cô thường xuyên sáng tác bằng hai ngôn ngữ và dù với tiếng Đức hay tiếng Nhật thì phong cách mang tính thử nghiệm của cô đều được đánh giá rất cao.

Hay như với Levi Hideo, mặc dù là người Mỹ song lại viết tiểu thuyết bằng tiếng Nhật và được coi là một trong những tác giả quan trọng nhất Nhật Bản hiện nay. Cuốn tiểu thuyết “Vỡ thành muôn mảnh” (2005) của tác giả này là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất được viết bằng tiếng Nhật với tư cách là một phản ứng mang tính văn học trước sự kiện 11/9 và giành giải Osaragi Jiro của báo Asahi.

Tiếng Nhật trong hội thoại tương đối đơn giản song là một ngôn ngữ khó đọc và viết. Trước đây do hàng rào ngôn ngữ quá lớn nên hầu như không xuất hiện nhà văn nước ngoài sáng tác bằng tiếng Nhật. Tuy nhiên, ngày nay, ngoài Levi Hideo, còn có các tác giả có đóng góp lớn đáng chú ý như: Roger Pulvers, tiểu thuyết gia, nhà viết kịch người Úc; Arthur Binard, nhà thơ người Mỹ. Gần đây nhất, nữ tiểu thuyết gia người Trung Quốc Dương Di đã giành giải thưởng uy tín Akutagawa và nhận được nhiều chú ý.

Nếu xem xét cá hiện tượng này, ta có cảm giác ranh giới của văn học Nhật Bản từ trước đến nay, tức là cái ranh giới phân rõ văn học Nhật Bản và văn học thế giới, dần trở nên mơ hồ. Chúng ta đang bước vào một thời đại mà ở đó chúng ta cần phải suy nghĩ lại về vị trí của mình trong thế giới.

Trong bài diễn từ nhận giải Nobel năm 1994, Oe Kenzaburo đã nói về “Tôi của một Nhật Bản mơ hồ” và quả thực mọi ranh giới giờ đã trở nên khá mơ hồ. Mà không, nói đúng hơn là, ngày nay chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc vượt qua các ranh giới.

Ngay cả các nhà văn Nhật Bản từ trước tới nay chỉ viết về Nhật Bản từ chính bên trong Nhật Bản thì nay nhiều người đã bước chân ra khỏi Nhật Bản, nhìn Nhật Bản từ bên ngoài và viết về Nhật Bản hay viết những tiểu thuyết lấy bối cảnh Nhật Bản. Ví dụ, cuốn tiểu thuyết “Tiểu thuyết của tôi - from left to right” (1995) của nhà văn nữ Mizumura Minae là tác phẩm kể về cuộc sống trong 20 năm của một cô gái người Nhật sống ở Mỹ từ năm 15 tuổi bằng cả tiếng Nhật và tiếng Anh.

Ikezawa Natsuki sống ở Okinawa, Pháp và Hokkaido, viết tiểu thuyết với bối cảnh là các vùng ở châu Á. Tiểu thuyết tiêu biểu “Cú lỡ bước của Macius Guili” (1993) là tác phẩm đầy sức hấp dẫn kiểu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo lấy bối cảnh một hòn đảo ở vùng Nam Đảo mà nguyên mẫu được cho là vùng Palau thuộc Micronesia.

Cuốn tiểu thuyết “Yumetsukai” (1998) của Shimada Masahiko lấy bối cảnh ở hai thành phố là Kamakura của Nhật Bản và New York của Mỹ, truyện ngắn “Auparavant” (1998) của Horie Toshiyuki lấy bối cảnh là vùng ngoại ô Paris, tiểu thuyết “Những ngày quên lãng bên bờ sông” (2005) lấy bối cảnh là bờ sông Sene.

Nhân dịp này, tôi cũng rất muốn giới thiệu với các bạn Việt Nam cuốn tiểu thuyết “Thiêu thân” (2005) của Miyauchi Katsusuke. Cuốn sách là câu chuyện phiêu lưu kể về việc tác giả đã đi khắp Việt Nam, vượt qua hàng rào ngôn ngữ để đi tìm câu trả lời về một nhà sư mà tác giả rất quan tâm đó là Thích Quảng Đức, người đã tưới xăng lên mình tự thiêu nhằm thể hiện sự phản kháng tại Sài Gòn năm 1963, rằng nhà sư trên thực tế là một người thế nào, tại sao ông lại có hành động can trường đến vậy.

Việc tác giả dũng cảm thực hiện chuyến phiêu lưu sang Việt Nam sau hơn 40 năm kể từ vụ tự thiêu ấy còn là chuyến đi mang tính tinh thần của tác giả hòng tìm kiếm ý nghĩa của việc sống trong cái thế giới sau những gì đã xảy ra ngày 11/9.

Khi chúng ta nói tới quốc tế hóa văn học, đó không có nghĩa rằng văn học thế giới sẽ được thống nhất dưới hình thức của một thứ ngôn ngữ quốc tế. Nếu cho rằng văn học Nhật Bản có xu hướng đi từ trong Nhật Bản ra ngoài Nhật Bản thông qua các bản dịch thì chắc chắn cũng tồn tại xu hướng đi từ ngoài Nhật Bản vào trong Nhật Bản.

Xu hướng đi từ ngoài vào trong có thể diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau. Thứ nhất, như tôi đã giới thiệu, đó là hình thức người nước ngoài viết bằng tiếng Nhật. Thứ hai, giống như Ikezawa Natsuki và Miyauchi Katsusuke, đó là hình thức đưa những cách nhìn từ bên ngoài vào bên trong. Thứ ba, là cách đơn giả và khả thi nhất, đó là dịch các tác phẩm xuất sắc viết bằng tiếng nước ngoài sang tiếng Nhật. Nếu thực hiện được sự chuyển dịch từ ngoài vào trong này, văn học Nhật Bản sẽ trở nên vô cùng phong phú.

Những điều tôi vừa trình bày hẳn cũng có thể áp dụng cho mối quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam. Hôm nay, tôi tới đây để nói về sự giàu có của văn học Nhật Bản và mong rằng có nhiều tác phẩm văn học Nhật Bản xuất sắc được dịch nhiều hơn nữa ở Việt Nam, đồng thời, cũng mong văn học Việt Nam sẽ được dịch nhiều hơn nữa sang tiếng Nhật, làm cho văn học Nhật Bản ngày càng phong phú. Tôi tin rằng chỉ bằng cách giao lưu, dịch thuật qua lại mới là cách mở ra con đường tới nền văn học thế giới mới của thế kỷ 21".

  • Giáo sư Mitsuyoshi Numano *
    Bản dịch tiếng Việt do dịch giả Lương Việt Dũng thực hiện. Bản quyền tiếng Việt thuộc về Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam. 
.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.