Những trường phái hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ-Trung (I)
- Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc kể từ chuyến thăm của Tổng thống R.Nixon (1972) cho tới khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, được hình thành trên cơ sở có những xem xét chiến lược lớn hơn và được thực hiện thông qua những nỗ lực hợp tác giữa hai bên.
Sự kiện tháng 6 năm 1989 đã dẫn tới bước ngoặt trong quan hệ hai bên, để lại một số ‘di sản’ vẫn còn tác động mạnh tới việc hoạch định chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc hiện nay.
LTS: Chính sách đối ngoại Mỹ - Trung Quốc luôn là tâm điểm chú ý của thế giới. Nhân chuyến thăm của đương kim Tổng thống Obama tới Trung Quốc, Bee mời bạn đọc nhìn lại đánh giá về "Điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc dưới thời Tổng thống G.W. Bush" của tác giả Nguyễn Lan Hương đăng trên Tạp chí Châu Mỹ ngày này, số 133, tháng 4/2009, bản quyền thuộc Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, Viện KHXH Việt Nam.
‘Di sản’ thứ nhất, như Kenneth Lieberthal nói, mang lại “cái nhìn lệch lạc của Mỹ về Trung Quốc” (1). Trong khi những vấn đề về hệ tư tưởng đã bị gạt sang bên khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, thì những vấn đề mới như lợi ích chiến lược quốc gia hay nhân quyền… ngày càng có ảnh hưởng đến quan hệ hai bên.
![]() |
| Quan hệ Mỹ - Trung luôn là tâm điểm chú ý của thế giới. Ảnh VNN |
Nói chung, khác biệt giữa hai nước về hệ thống, giá trị xã hội, chính trị và kinh tế trở thành những yếu tố ngày càng tác động mạnh đến hoạch định chính sách đối với Trung Quốc của Mỹ.
Di sản thứ ba là sự mất niềm tin chung giữa hai bên, thay vào đó là mối nghi ngờ lẫn nhau về ý định của mỗi bên, những bất đồng về nhận thức, lợi ích về những vấn đề chung như trật tự chính trị thế giới sau Chiến tranh Lạnh, hay như vấn đề kiểm soát và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, vấn đề liên quan đến thương mại hay thúc đẩy nhân quyền...
Và ngoài ra nhận thức về sự “nổi lên của Trung Quốc” sẽ tác động tới lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, khiến cho quan hệ hai nước càng trở nên phức tạp hơn.
Các trường phái hoạch định chính sách
Hầu hết các vấn đề gây bận tâm cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ đều liên quan tới một thực tế rằng, Trung Quốc đang nổi lên thành một nước lớn trên trường quốc tế, bởi vậy Washington sẽ phải tính đến việc giải quyết và điều chỉnh quan hệ Mỹ - Trung như thế nào.
Tất cả đều thống nhất ở điểm Trung Quốc đang nổi lên thành cường quốc về kinh tế và quân sự, nhưng lại không thống nhất được về mức độ sức mạnh của Trung Quốc và những tác động của nó, và chính sách an ninh mà Bắc Kinh sẽ theo đuổi. Các chính quyền Mỹ từ những năm 1990 liên tục có những cách giải thích và chính sách khác nhau về vấn đề nổi lên của Trung Quốc.
Trường phái “Trung Quốc là mối đe dọa” cho rằng một nước Trung Quốc nổi lên, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, tăng cường sức mạnh quân sự, thúc đẩy yêu cầu thống nhất lãnh thổ, và chính quyền ‘độc tài’ trong nước sẽ ngày càng cứng rắn và có tính đối đầu hơn, về lâu dài sẽ thách thức hiện trạng và đảo lộn cân bằng quyền lực của khu vực và thế giới.
Theo lý thuyết cơ cấu hiện thực, các quốc gia sẽ rất nhạy cảm với khả năng thích ứng trong hệ thống quốc tế và tìm cách thay đổi cơ cấu quốc tế theo cách phục vụ tốt hơn và thúc đẩy lợi ích quốc gia của mình. Khi yếu sức, họ có thể miễn cưỡng chấp nhận những hạn chế áp đặt lên họ, nhưng một khi đã đủ sức, họ có xu hướng theo đuổi quyền lực và tìm cách thay đổi hiện trạng.
Nói chung theo trường phái này, quan hệ Trung Mỹ từ chuyến thăm của Chủ tịch Giang Trạch Dân và Tổng thống Bill Clinton vào cuối những năm 1990, chủ yếu là được tô vẽ thêm; những bất đồng cơ bản gây ra những nguy cơ xung đột trong tương lai sẽ không có cách nào giải quyết được (2). Cách tốt nhất là kiềm chế Trung Quốc trước khi nước này trở nên quá mạnh, bởi khi đó mới kiềm chế thì quá tốn sức.
Trường phái “can dự”, tuy hoàn toàn nhận thức được sức mạnh của Trung Quốc, nhưng vẫn cho rằng do ảnh hưởng của truyền thống lịch sử, văn hoá và đạo Khổng, Trung Quốc có thể không làm thay đổi hệ thống quốc tế cho dù Trung Quốc có trở nên mạnh hơn nữa.
Thêm vào đó, tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong cộng đồng quốc tế và tham gia vào các tổ chức quốc tế có thể khuyến khích các hành vi hợp tác hơn của Bắc Kinh. Vì vậy, theo trường phái này, thay vì kiềm chế thì nên giúp đỡ Trung Quốc gia nhập hệ thống quốc tế.
Lô-gích ẩn sau vấn đề can dự toàn diện với Bắc Kinh là: một chiến lược như vậy sẽ tạo điều kiện gắn kết nhận thức sức mạnh khu vực và toàn cầu vào hệ thống khu vực, quốc tế và ngăn chặn xung đột toàn cầu như đã từng xảy ra với sự nổi lên của Đức, Nhật. Cuối cùng trường phái này cho rằng hai nước nên chia sẻ lợi ích chiến lược để chứng tỏ hợp tác là cần thiết và khả thi.
Trường phái thứ ba, cho rằng hai cách hiểu trên dẫn tới những quan niệm, chính sách thái quá về hợp tác hay đối đầu. Những người thực dụng thận trọng tập trung vào khả năng của sự cân bằng quyền lực trong khu vực hơn vào ý định.
Họ cho rằng dù có sự tăng trưởng và phát triển mạnh về kinh tế, quân sự trong 2 thập kỷ qua, Trung Quốc vẫn còn đối mặt với nhiều vấn đề trong nước và quốc tế. Do khoảng cách giữa tham vọng và khả năng, chính sách của Trung Quốc với các nước láng giềng cần mềm mỏng hơn; thận trọng hơn, tránh nảy sinh xung đột.
Chiến lược tốt nhất với Trung Quốc là thích ứng với lợi ích của Trung Quốc trong khi điều chỉnh hành vi của Trung Quốc thông qua biện pháp lôi kéo các nhà hoạch định chính sách của nước này bằng phần thưởng và đối đầu với những hành vi không hợp tác thông qua liên minh an ninh trong khu vực.
“Trường phái can dự” dưới thời Bill Clinton
Chính sách đối với Trung Quốc do Chính quyền Bill Clinton đề ra vừa nhằm mục đích thúc đẩy những mục tiêu chính sách phục vụ cho ưu thế vượt trội của Mỹ (sự thịnh vượng kinh tế, tăng lợi ích quốc gia, ảnh hưởng), vừa thúc đẩy mở rộng dân chủ, thị trường trên toàn thế giới.
Chính sách đối với Trung Quốc của Clinton không thống nhất do khuynh hướng của Chính quyền Clinton muốn xoa dịu cả các nhóm lợi ích và Quốc hội. Clinton tìm cách gắn việc cấp quy chế tối huệ quốc cho Trung Quốc vào mục tiêu thúc đẩy nhân quyền, một nhiệm vụ mà sau đó ông đã phải thừa nhận là không thể.
Khi ở giữa nhiệm kỳ hai, Clinton bắt đầu xây dựng chính sách đối với Trung Quốc trên một khuôn khổ có tính xây dựng hơn, một mối quan hệ “đối tác chiến lược”.
Nguyên nhân là do Chính quyền Clinton nhận ra rằng: họ cần có quan hệ hợp tác của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, hoà bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, tổ chức và phối hợp giải quyết các vấn đề ở cấp độ khu vực và toàn cầu.
Những lợi ích kinh tế của Mỹ ở Trung Quốc cũng là nhân tố quan trọng tác động tới chính sách của Chính quyền Clinton. Tổng thể có thể gọi chính sách đối với Trung Quốc của Chính quyền Clinton là chính sách “can dự”.
Chú thích:
1) Kenneth Lieberthal (1996), “A New China Strategy,” in Agenda 1996: Critical Issues in Foreign Policy (New York: Council on Foreign Relations, 1996), p. 183.
2) Susan M. Puska (1998), New Century, Old Thinking: The Dangers of The Perceptual Gap in U.S.-China Relations (Carlisle Barracks, PA: Strategic Studies Institute, U.S. Army War College, April 10, 1998).
-
Theo Nguyễn Lan Hương (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 133, tháng 4/2009)
