Thay đổi tư duy đối ngoại Mỹ-Trung sau vụ 11/9 (II)
- Ngay từ đầu, Chính quyền Bush có cách tiếp cận khác hoàn toàn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Trong chiến dịch bầu cử năm 2000, các cố vấn của Tổng thống Bush ủng hộ cách sử dụng sức mạnh của Mỹ để thúc đẩy lợi ích quốc gia, xây dựng các liên minh an ninh và cương quyết với các đối thủ tiềm năng.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Trừ một số ngoại lệ, hầu hết cố vấn cao cấp về chính sách đối ngoại đều là những người có tư tưởng bảo thủ, cứng rắn, từng phục vụ trong Chính quyền Reagan và Bush cha trước đây. Họ phê phán cách tiếp cận của Chính quyền Clinton là quá mềm mỏng, thiếu quyết đoán, chỉ quan tâm tới chủ nghĩa đa phương mà không tập trung vào kết quả cuối cùng.
![]() |
| Vụ 11/9 làm thay đổi tư duy đối ngoại của Mỹ với Trung Quốc. Ảnh IE. |
Điều này cũng có thể là do thiên hướng của nền chính trị Mỹ. Đó là các tổng thống mới sẽ đưa ra chính sách khác với tổng thống tiền nhiệm, ban đầu có thể là nhằm chứng tỏ sự khác biệt, thậm chí là trái ngược với quan điểm của tổng thống tiền nhiệm. Theo James Mann: “Sau Chính quyền Nixon, tất cả những ai được bầu vào Nhà Trắng khi nhậm chức đều có ý định thay đổi phong cách hoặc chính sách đối với Trung Quốc” (3)
Sự khác biệt giữa Bush và Clinton
Ít nhất có hai khác biệt cơ bản giữa hai Chính quyền Clinton và Bush trong hoạch định chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc.
Thứ nhất, thay vì xem Trung Quốc như một “đối tác chiến lược” (4), Chính quyền Bush nêu đặc trưng quan hệ với Trung Quốc một cách phức tạp hơn, trong đó hai nước vừa có thể hợp tác trên một số vấn đề cụ thể, nhưng nhìn chung có xu hướng cạnh tranh hơn trên các vấn đề khác.
Trong chiến dịch vận động của mình, ứng cử viên Bush đã vài lần ví Trung Quốc như “đối thủ cạnh tranh chiến lược” của Mỹ (5). Khái niệm này được nhấn mạnh trong Báo cáo quốc phòng bốn năm một lần (QDR) và báo cáo Tổng quan tình hình hạt nhân (NPR), trong đó coi Trung Quốc vừa là đối thủ cạnh tranh quân sự tiềm tàng của Mỹ tại Châu Á - Thái Bình Dương, vừa là mục tiêu mà Mỹ nên suy ngẫm về việc sử dụng vũ khí hạt nhân của nước này.
Thứ hai là khác biệt về cách tiếp cận chính sách. Nếu Clinton tìm cách gắn những tiến bộ về nhân quyền với cấp quy chế tối huệ quốc cho Trung Quốc, hoặc điều chỉnh những bất đồng trong các vấn đề cụ thể nhằm xem xét những bối cảnh rộng hơn trong quan hệ hai bên, thì Bush thông qua một chính sách phân đoạn gắn với từng vấn đề cụ thể.
Nói cách khác, Mỹ sẽ tìm kiếm sự hợp tác với Trung Quốc ở những lĩnh vực có thể, nhưng sẽ cứng rắn trong giải quyết ở những vấn đề cần phải cứng rắn. Điều này có thể giải thích tại sao ứng cử viên Bush lại ủng hộ việc cấp quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn cho Trung Quốc (PNTR), nhưng Chính quyền Bush cũng sẵn sàng áp dụng lệnh trừng phạt (ít nhất 7 lần cho tới gần đây) với những gì mà Bush cáo buộc Trung Quốc vi phạm quy chế cấm phổ biến vũ khí hạt nhân.
Thêm vào đó, các quan chức của Chính quyền Bush, kể cả tổng thống, cũng chỉ ra rằng, hợp tác hai bên trong vấn đề chống khủng bố sẽ không được sử dụng là cớ cho Trung Quốc biện minh cho những vi phạm về tôn giáo và nhân quyền của mình (6).
Nguyên nhân của sự thay đổi chính sách này được Cố vấn chính sách đối ngoại Condoleezza Rice giải thích, là do Trung Quốc có “những lợi ích sống còn không được giải quyết” với Đài Loan và biển Đông, Trung Quốc bất mãn với vai trò của Mỹ, Trung Quốc không phải là quốc gia thích sự nguyên trạng mà muốn thay đổi cân bằng quyền lực ở Châu Á theo mong muốn của mình.
Bà Rice cho rằng, chính sách áp dụng đối với đối thủ chiến lược là nên theo đuổi sự hợp tác bất cứ khi nào có thể, nhưng Mỹ cũng “không bao giờ nên sợ đối đầu với Bắc Kinh” khi lợi ích bị xung đột (7).
Việc xác định lại mối quan hệ Mỹ - Trung này cũng phù hợp với chiến lược toàn cầu do các thành viên chính của nội các như Dick Cheney và Paul Wolfowitz vạch ra vài năm trước đó. Chiến lược này nhằm mục tiêu duy trì vị trí độc tôn của Mỹ trên thế giới. Nó vạch ra một trật tự thế giới, trong đó Mỹ cần ngăn chặn không để cho bất kì quốc gia nào hay liên minh nào trở thành cường quốc, và không cho bất kì quốc gia nào nổi lên thành đối thủ toàn cầu bất kể lúc nào.
Với quan điểm chiến lược này, bất kì quốc gia nào dù chỉ gần ở vị trí thách thức vị trí bá quyền của Mỹ như Trung Quốc, cũng sẽ là đối thủ chiến lược: “Mục tiêu đầu tiên của chúng ta là nhằm ngăn chặn một đối thủ mới lại nổi lên. Đây là đòi hỏi xem xét sự thống trị đằng sau chiến lược quốc phòng khu vực mới, và đòi hỏi chúng ta nỗ lực ngăn chặn bất kì cường quốc thù địch nào thống trị khu vực có các nguồn lực, dưới sự kiểm soát chặt chẽ, đủ để tạo ra cường quốc toàn cầu. Các khu vực đó bao gồm Tây Âu, Đông Á, lãnh thổ Liên Xô cũ, và Tây Nam Á.” (8)
Tác động của vụ khủng bố 11/9
Vụ khủng bố 11/9 vào nước Mỹ tác động rất lớn tới quan hệ Mỹ - Trung. Thứ nhất, nó làm thay đổi tư duy chiến lược trong xây dựng chính sách đối ngoại của nước Mỹ.
Nó khiến Chính quyền Bush đột nhiên khám phá ra một kẻ thù mới hiện thực hơn - một mối đe dọa tức thời hơn đối với an ninh Mỹ, chứ không chỉ là một đối thủ tiềm tàng và lâu dài - Trung Quốc.
Trên thực tế, trong tương lai gần, mối đe dọa an ninh chủ yếu với Mỹ không phải bắt nguồn từ các cường quốc lớn, mà từ “những mạng lưới ngầm” của chủ nghĩa khủng bố quốc tế.
Trong bài phát biểu tại West Point vào tháng 6/2002, Bush chỉ ra rằng hợp tác của các nước lớn trong cuộc chiến chống khủng bố thuyết phục ông rằng: “Chúng ta có cơ hội tốt nhất kể từ khi có sự xuất hiện của các nhà nước dân tộc trong thế kỷ XVII trong việc xây dựng một thế giới, nơi mà các cường quốc cạnh tranh trong hoà bình thay vì chuẩn bị cho chiến tranh.” (9)
Bản Chiến lược An ninh quốc gia (NSS) của Nhà Trắng năm 2002 cũng khẳng định lại ý tưởng này: “Hiện nay, các cường quốc thế giới nhận thấy họ ở cùng phía - thống nhất bởi những đe dọa chung từ bạo loạn và khủng bố.”(10)
Dựa trên những nhận thức mới này, Ngoại trưởng Powell phát triển “chiến lược quan hệ đối tác” trước khi hết nhiệm kỳ. Ông cho rằng cuộc chiến chống khủng bố và việc xây dựng quan hệ mang tính xây dựng giữa các cường quốc không loại trừ lẫn nhau. Mỹ thực hiện cuộc chiến chống khủng bố “với một mắt hướng về sự hợp tác giữa các cường quốc.”(11)
Thứ hai, vụ khủng bố 11/9 đã mang lại cơ hội cho Trung Quốc đứng gần Mỹ hơn. Chắc chắn Washington không cần một “đối thủ chiến lược” ở Đông Á khi họ đang bị mắc vào cuộc chiến tranh du kích ở Iraq.
Trái lại, Washington cần sự hợp tác của Trung Quốc hơn bao giờ hết để duy trì sự ổn định tại Châu Á - Thái Bình Dương. Quyết định chiến lược của Trung Quốc nhanh chóng ủng hộ cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ một lần nữa lại đặt Bắc Kinh (ít nhất là bề ngoài) vào vị trí đối tác quan trọng của Washington. Điều này đã có tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc của Bush.
Và để đáp lại thiện chí của Trung Quốc, Bush quyết định dự hội nghị APEC tại Thượng Hải, bất chấp cuộc chiến tại Afghanistan đang tiếp diễn, đây cũng là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên từ sau vụ khủng bố 11/9. Bush tuyên bố nếu hội nghị không được tổ chức ở Trung Quốc, ông có thể sẽ không tham dự (12).
Sau đó, vào tháng 2/2002, Bush sang thăm chính thức Bắc Kinh trong chuyến thăm ba nước Châu Á. Ở Trung Quốc, Bush ca ngợi nỗ lực của Trung Quốc trong cuộc chiến chống khủng bố (WOT) và khuyến khích tăng cường hợp tác an ninh và kinh tế trong lĩnh vực này.
Đây là điều quan trọng và không bình thường về việc một Tổng thống Mỹ thăm một nước hai lần trong vài tháng. Nó cho thấy sự quan tâm và thay đổi trong thái độ của Bush đối với Trung Quốc. Có thể coi đó là bước dạo đầu cho việc thay đổi tiết tấu chủ đạo trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc.
Trong cuộc gặp đầu tiên với Chủ tịch Trung Quốc, Bush chính thức từ bỏ việc sử dụng cụm từ “đối thủ chiến lược”. Bush bắt đầu gọi Trung Quốc là “một nước lớn và không phải là một kẻ thù của Mỹ”.
Bush khẳng định “coi Trung Quốc như một người bạn của Mỹ” và tuyên bố Mỹ tìm kiếm một mối quan hệ “thẳng thắn, xây dựng và hợp tác” (Candid, Constructive and Cooperative).
Khái niệm 3C trong quan hệ Mỹ - Trung
Tính từ “xây dựng” và “hợp tác” là những gì mà Trung Quốc mong muốn, trong khi tính từ “thẳng thắn” được Mỹ thêm vào như sự dự phòng cho khả năng xấu của mối quan hệ trong tương lai.
Khái niệm 3C này cũng làm sáng tỏ từ bắt nguồn từ thuật ngữ 1C (competitive) là cạnh tranh trước đó. Trong phiên điều trần trước Quốc hội tháng 4/2002, Ngoại trưởng C. Powell khẳng định lại công thức 3C để mô tả quan hệ Mỹ - Trung.
Ông giải thích quan hệ 3C này cụ thể là: “Một mối quan hệ mang tính thẳng thắn, xây dựng và hợp tác là những gì chúng ta đang xây dựng với Trung Quốc: Thẳng thắn ở những chỗ chúng ta bất đồng; xây dựng ở những chỗ chúng ta hiểu ra từ những vướng mắc trước đó; và hợp tác ở những chỗ chúng ta có chung lợi ích kinh tế, khu vực hay toàn cầu.” (13)
Trong buổi tiếp Thủ tướng Ôn Gia Bảo tại Mỹ vào tháng 12/2003, Powell nhấn mạnh hơn vào quan hệ 3C này: “Các ông thẳng thắn, xây dựng và các ông tìm kiếm quan hệ hợp tác và đó chính xác là những điều chúng tôi tìm thấy ở Trung Quốc”. Ông nói rõ: “Chúng tôi cần một quan hệ như vậy cho các thế hệ trong tương lai để tăng cường và mở rộng hoà bình.” (14)
Chú thích:
3) James Mann (1999), About Face: A History of America’s Curious Relationship with China, from Nixon to Clinton(New York: Alfred A Knopf, 1999), p. 130.
4) Ramon Hawley Myers, Michel Oksenberg, and David L. Shambaugh (eds.), Making China Policy: Lessons from the Bush and Clinton Administrations (New York: Rowman & Littlefield, 2001).
5) Council on Foreign Relations’ website “Campaign 2000: the Candidates, Their Supporters & Experts Debate Foreign Policy” [http://www .foreignpolicy2000.org/library/index.html].
6) Rosemary Foot (2003), “Bush, China and Human Rights,” Survival, Vol. 45, No. 2 (Summer 2003), pp. 167-186.
7) Rice, Condoleezza (2000), “Promoting the National Interest,” Foreign Affairs, January/February 2000, tr. 56.
8) Frontline. (2005). The War Behind Closed Doors. http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/shows/iraq/etc/wolf.html
9) Bush, George W (2002) “Remarks by the President at 2002 Graduation Exercise of the United States Military Academy,” June 1, 2002, http://www.whitehouse.gov/news/releases/2002/06/20020601-3.html.
10) White House (2002), “The National Security Strategy of the United States of America,” September 2002, http://www.whitehouse.gov/nsc/nss.pdf
11) Powell, Colin (2004), “A strategy of partnerships” Foreign Affairs, January/February, 2004, tr. 4, http://www.foreignaffairs.org/20040101faessay83104-p60/colin-l-powell/a-strategy ofpartnerships.html.
12) Zhiqun Zhu (2006), US - China Relations in the 21st Century, Routledge, Taylor & Francis, tr. 113
13) Powell, Colin (2002a) Testimony Before the Senate Appropriations Subcommittee on Foreign Operations, Export Financing, April 24, 2002, http://www.state.gov/secretary/former/powell/remarks/2002/9685.htm.
14) Powell, Colin (2003) Remarks at dinner honoring Chinese Premier Wen Jiabao, December 8, 2003, http://www.state.gov/secretary/former/powell/remarks/2003/26973.htm.
Theo Nguyễn Lan Hương (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 133, tháng 4/2009)
