Những dòng nhật ký để lại của người anh hùng liệt sĩ
- Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970), thuộc Tổng cục Chính trị - QĐNDVN, chỉ tồn tại 5 năm nhưng có một truyền thống vẻ vang do chính máu của thầy, trò nhà trường tô thắm. Trong đó phải kể đến 2 thầy giáo và 28 học sinh đã hy sinh anh dũng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; hơn thế nữa, họ ra đi ở cái tuổi mười tám, đôi mươi…
| Liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. |
Nhân dịp 27/7, xin được giới thiệu về một những trang nhật ký cuối cùng của liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.
26/6/1972
Như vậy lại sắp hết 3 tháng thực tập tại Quảng Bình. Đáng lẽ hôm nay mình và các bạn chuẩn bị đồ đạc, tổng kết để trở về Thủ đô yêu dấu.
Thế nhưng, đùng một cái, có lệnh ở lại công tác thêm một thời gian nữa. Thầy Chi, phụ trách tụi mình, đã có giấy gọi về trường. Đêm hôm chia tay thật là bùi ngùi, lưu luyến. Kể ra thì có buồn thật, nhớ nhà và bà con cô bác, nhớ H., nhớ Hà Nội… bao nhiêu tình cảm vui buồn lẫn lộn…
Thế nhưng biết làm thế nào được, đây là nhiệm vụ của cách mạng, của Đảng giao, ta phải phục tùng và làm trọn. Nghĩ đi nghĩ lại thấy mình còn thua xa những chiến sĩ vô Nam đã hàng chục năm nay, hoặc nhiều đồng chí công tác trong này từ 1966…
Biết đến bao giờ mình mới được ghé thăm nhà, dù chỉ một lần thôi, rồi đi bất cứ đâu cũng được; vì hôm vô đây đâu có kịp ghé qua nhà!
Như vậy, bắt đầu từ nay, mình đã thực sự bước vô đời! Một cuộc sống mới đang mở ra trước mắt mình với đầy gian nan, vất vả, nhưng đầy vinh quang.
30/6/1972
Mấy ngày nay địch đánh ngày càng căng, do chiến trường ta đang thắng lớn, địch như con thú dữ cùng đường đâm cắn càn. B52 của chúng ngày nào cũng rải thảm. Đã 10 ngày nay rồi đất Quảng Bình luôn hứng bom B52. Có lần, mình cùng anh Vân đi đào hầm ở nhà anh ấy. B52 rải thảm cách đấy có 1 km. Bom nổ xé trời, đất rung chuyển như muốn sập xuống, như muốn tung lên tất cả. Nghe nó rền rĩ, ầm ào như bão tố; thế mà hai anh em cứ nhìn nhau cười (vì hầm mới đào mới ngang đầu gối). Nguy hiểm thật!
Suốt 15 ngày qua, đêm nào cũng mất ngủ, thật vất vả. Ngày dỡ nhà cũ, dựng nhà mới ở chỗ khác, rồi đào hầm, đắp hầm… đêm lại trực. Một ngày ngủ nhiều nhất có 2-3 tiếng. Người đen thui, hốc hác, hai hố mắt trũng sâu. Thế nhưng vẫn ca hát, vui cười. Giờ được đi nghe ca nhạc thì vui biết mấy, hoặc có cây ghi-ta cũng được. Kỉ niệm về những đêm ca nhạc hay chiếu phim ở Hà Nội mãi sống trong lòng tôi.
Hà Nội yêu dấu của tôi đang chiến thắng giặc. Hà Nội, quê hương thứ hai của tôi ơi! Sẽ có ngày tôi trở về với chiến công chói lọi từ tuyến lửa anh hùng.
8/7/1972
Trưa nay nằm trong hầm, tôi giở sổ tay viết vội vài dòng cho khuây khỏa. Suốt 2 tháng trời không được tin nhà, khiến lòng tôi xao xuyến lo âu. Về cá nhân, tôi không lo cho tính mạng của mình, mà lo cho cha mẹ già và bà chị đau ốm với đứa cháu nhỏ ngây thơ, lo cho những người thân của tôi.
Không có đài nên tin tức chiến sự cũng mù tịt, chẳng biết gì cả. Buồn thật!
B52 với chúng tôi bây giờ như cơm bữa. Hôm nay lại vừa hoàn thành 1 cái nhà và một hầm lớn.
Các o ở đây cứ gặp mình lại trêu chọc (thật khổ cho chàng trai chưa vợ này!). Cũng nhiều lúc họ muốn ngỏ tình chi đây? Thế nhưng, mình cũng ít nói chuyện, mà chỉ cười trừ. Bởi vì phải đợi chờ một hy vọng to lớn, cao đẹp hơn, đó là thống nhất đất nước. Lúc đó mới có thời gian lo nghĩ tới “chuyện kia”. Quê hương sẽ giang tay đón tôi trở về.
6/8/1972
Hôm nay, cùng một lúc nhận được 3 bức thư: của gia đình, của Mạnh Chiến và Trường (những thằng bạn chí thân).
Thật khó mà nói hết nỗi vui mừng của mình. Xem thư ba, thấy gia đình vẫn mạnh khỏe và đi sơ tán. Đó là điều ta lo lắng bấy lâu. Chu Kim Sơn đã lớn khôn và ở với bà ngoại. Đứa cháu giờ lên 2, bé bỏng xinh xinh, chắc giờ này chẳng nhận ra cậu của nó nữa. Cậu đã già và có râu như ông ngọai rồi(!). Mới vô Quảng Bình có 4 tháng mà mình đã già đi nhiều. Nhiều lúc nghĩ mà giật mình!
Tội nghiệp con cháu mới sinh ra đã phải đi sơ tán, đến lúc chập chững biết đi lại phải nếm mùi bom đạn. Biết bao cháu bé trên đất nước này phải chịu bao cảnh tang tóc, mồ côi do chiến tranh gây nên. Không hiểu những bà mẹ có lương tri trên trái đất sẽ nghĩ gì về những cháu bé Việt Nam, những cháu bé vô tội, ngày chỉ biết bú no, ngủ ngon đã phải chịu đau thương, tang tóc như người lớn.
Những bà mẹ Mỹ sẽ suy nghĩ gì về con cái họ, cũng là những đứa nhỏ bập bẹ gọi ba, gọi mẹ, mà giờ đây trở thành những ác quỷ xa tăng, tham gia hủy diệt những gì gọi là sự sống trên mảnh đất Việt Nam xa xôi, giết hại từ những bà mẹ tóc bạc phơ cho đến những cháu bé còn chưa kịp mở mắt trông thấy ánh sáng Tổ quốc mình.
Họ sẽ nghĩ sao khi con cái họ đang gây tang tóc và mang những thứ văn hóa đồi trụy của nước Mỹ sang đất nước này. Cuối cùng, chúng sẽ chuốc lấy cái chết nhục nhã và sẽ nằm mãi trên mảnh đất xa nuớc Mỹ hàng vạn dặm này.
![]() |
Đúng là “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”! Cũng là những đứa trẻ sơ sinh, nhưng ở hai chế độ khác nhau sẽ tạo nên những con người khác nhau. Một bên trở thành thú dữ, lấy giết người làm thú tính, mang hình người mà lòng dạ dã thú. Một bên trở thành những con người biết yêu quê hương, yêu gia đình, yêu cuộc sống và con người.
Phải chăng chế độ tươi đẹp sẽ tạo nên những con người tốt đẹp, chế độ thú vật sẽ tạo nên những con thú dữ xấu xa? Mà cái tốt đẹp bao giờ cũng có sức mạnh, đập tan mọi xấu xa và bất công. Cái mới bao giờ cũng thắng cái cũ, cái tiến bộ bao giờ cũng dẹp đi cái lạc hậu. Thế phát triển của xã hội bao giờ cũng đi lên, bánh xe lịch sử không bao giờ quay ngược!
… Mất con, bà mẹ nào chẳng đau khổ. Thế nhưng cái đau khổ đó cũng khác nhau. Cùng đau khổ vì mất đứa con mình đã mang nặng đẻ đau, nhưng sẽ đau khổ hơn, day dứt hơn, khi bị mang tiếng với người đời vì đã sinh ra những đứa con dã thú. Một đằng đau khổ, nhưng tâm can được nhẹ bớt phần nào, được an ủi vì con ta đã ngã xuống tại mảnh đất ta sinh ra và lớn lên, vì mảnh đất đó mà con ta đã hy sinh, vì mảnh đất mà tổ tiên và dân tộc giao phó, để bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc cho mọi người lương thiện. Con ta đã ngã xuống không một điều ân hận. Tổ quốc sẽ ghi công, dân tộc sẽ đời đời ghi nhớ những người con quang vinh.
Má ơi, con thương má quá! Đáng ra tuổi già như má là tuổi an nhàn, nghỉ ngơi và có những đứa con lớn phụng sự. Thế nhưng vì Tổ quốc kêu gọi, nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà tan, vì vậy chúng con phải tạm thời xa ba má, anh chị và bà con, xa những mái nhà thân yêu, để lên đường đi khắp mọi miền đất nước, giết sạch những con con thú mang hình người kia, để cứu lấy những bà mẹ già, những cháu bé vô tội.
Chúng con sẽ thực hiện lời Bác: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”. Quét sạch giặc rồi, lúc đó con sẽ về phụng sự mẹ già, như trăm ngàn đứa con hiếu thảo khác.
Nhưng điều không ghi trong nhật ký
Những dòng chữ giản dị được viết trong cuốn nhật ký mà ngoài bìa có 2 khổ thơ do chính anh viết:
“Ơi tuổi trẻ say sưa lý tưởng
Dấn thân vô đường tranh đấu tiền phong
Lấy khổ ải làm một nguồn sung sướng
Vấp ngã sợ gì, rèn luyện ắt thành công!”
“Chưa thất bại chưa phải người từng trải
Chưa đau thương chưa phải bước vào đời
Nếu lòng ta cứ sợ mưa sa
Thì nắng đẹp mùa xuân đâu sẽ thấy”
Huỳnh Kim Trung đã làm được đúng như những gì anh thề nguyện…
|
Tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân năm 1970, Huỳnh Kim Trung vào học Đại học Cảnh sát nhân dân. Tháng 4/1972, anh tình nguyện cùng các học viên cảnh sát vào thực tập tại Quảng Bình. “Vùng cán xoong” này trở thành tọa độ lửa, ngày đêm hứng bom đạn Mỹ. Tại phà sông Gianh, Trung nhận nhiệm vụ của chiến sĩ cảnh sát giao thông, điều động những chuyến phà chở bộ đội, vũ khí vào Nam chiến đấu. Giở lại hồ sơ lưu lại của Phòng Thi đua (Bộ Công an) có ghi: Ngày 16/4/1972, trong khi máy bay Mỹ đánh phá, anh tham gia giải phóng đoàn xe từ phía Nam ra bị tắc. Ngày 29/4/1972, lại dũng cảm dập lửa trên chiếc xe chở đạn bị máy bay địch bắn cháy (Cái chết trực chờ, mà anh coi thường đến vậy! - NV), đưa lái xe bị thương đi cấp cứu. Sau đó lại cõng một công nhân bến phà đi cứu thương. |
Trần Kiến Quốc
