Vải sợi thời Trung cổ và Cận đại Việt Nam
- Đây là thời kỳ vải vóc của Việt Nam được đưa đi các nơi trên thế giới và có sự du nhập mạnh các sản phẩm từ nước ngoài.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Điểm xuất phát của con đường tơ lụa
Trong khoảng đầu công nguyên, dưới ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, có thể miền Bắc Việt Nam bắt đầu sử dụng sợi lấy từ cây bông (cotton).
Sợi bông mảnh nhỏ và mềm mại nhanh chóng thay thế sợi vỏ cây dưới đồng bằng và dần trở thành nguyên liệu chính của nghề thủ công vải sợi Việt Nam thời Trung đại.
Sợi thân cây như gai, lanh chỉ còn được sử dụng làm nguyên liệu đan lưới, bện thừng dưới đồng bằng và để dệt vải ở những vùng nông thôn nghèo và miền núi.
![]() |
| Lụa Hà Đông. Ảnh IE |
Thời nhà Đường, vải sợi ở Giao Châu (miền Bắc Việt Nam) được đưa đi các nơi khiến cho Tống Bình trở thành một điểm xuất phát của con đường tơ lụa phía nam. Nhiều cảng biển trong vùng được coi như là cảng buôn bán vải, như Hợp Phố, Bố Hải Khẩu (Bố trong tiếng Hán là Vải)...
Nhiều làng dệt lụa chuyên nghiệp đã xuất hiện trong thời kỳ này và trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa đã trở thành một kỹ năng phổ cập đối với mọi gia đình nông thôn Việt Nam. Vải sợi quý tộc Việt Nam sử dụng là những hàng lụa thượng hạng của nội địa và những hàng tằm tơ có tiếng của Trung Hoa, Ấn Độ và Ả Rập.
Từ thế kỷ XVII bắt đầu xuất hiện ồ ạt sản phẩm vải sợi từ các nước Ấn Độ, Ả Rập và châu Âu vào thị trường Đông Á và Đông Nam Á. Thư tịch Việt Nam ghi nhận hàng loạt loại hình vải sợi mới lạ khác với vải sợi truyền thống, như vải làm từ sợi chuối tiêu từ các nước lân bang phía nam, vải hoa lang (dệt hoa), gấm vóc các hạng...
Việc nghiên cứu vải sợi trong khoảng thế kỷ XVII - XIX có nhiều thuận lợi vì trang phục quý tộc được lưu giữ nhiều trong các từ đường gia tộc, đền miếu và cả trong các ngôi mộ được bảo tồn kỹ lưỡng.
Sự xâm nhập của du khách và thương nhân châu Âu đã để lại nhiều du ký chân thực, sinh động mang tính miêu tả dân tộc học cũng giúp làm sáng tỏ một số mặt của lịch sử vải sợi trong vùng. Những tác phẩm mỹ thuật đương đại thể hiện qua các tranh, tượng người, thần thánh được thờ phụng đã cung cấp nhiều hình ảnh cụ thể về phục trang đương thời.
Trào lưu ăn mặc kiểu Âu
Thế giới vải sợi và phục trang của người Việt Nam có một cuộc biến đổi lớn sau khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.
Việc du nhập ồ ạt sợi bông và xây dựng những nhà máy dệt quy mô lớn đã bóp chết dần các khung dệt ở quy mô gia đình. Các loại vải sợi châu Âu truyền thống cũng được du nhập, trong đó đáng kể đến là loại vải làm từ sợi thân cây thuộc loài linaceae (flax) trồng phổ biến ở châu Âu.
Đây mới thực sự là loại sợi có tên là "lanh" (line đọc theo âm Pháp). Loại vải này chỉ thay thế trong một số lĩnh vực trang trí nội thất, công nghiệp và mỹ thuật chứ không thay thế được vải gai, lụa, đũi truyền thống.
Người Pháp đã chú ý đưa các máy dệt mới vào để thúc đẩy nghề lụa, trong đó đáng chú ý nhất là xu hướng tăng khổ rộng và đưa kỹ thuật dệt hoa bằng các tấm bìa đục lỗ. Lụa Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là làng lụa Hà Đông đã từng tham dự các hội chợ triển lãm châu Âu.
Các kiểu quần áo Âu được du nhập đã tạo ra trào lưu ăn mặc kiểu Âu và đáng chú ý hơn là trào lưu biến đổi, đan xen các mốt Âu - Á để tạo ra những kiểu phục trang riêng biệt độc đáo mang đậm tính dân tộc, mà trong đó hiện tượng áo dài Việt Nam là một ví dụ.
Nguyễn Việt
