Trường học dựng trong vườn nhà cô giáo
- Suốt 20 năm qua, xuất phát từ tình thương những trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt, cô Bùi Thị Hoàn đã tự dựng phòng học trên đất nhà mình để dạy chữ cho các em.
Thiểu năng cũng muốn được học cô Hoàn
Đúng 6 giờ tối, các em học sinh trong lớp có mặt đầy đủ tại nhà cô giáo Bùi Thị Hoàn ở số 37/8, khu phố Long Điềm, P. Long Bình Tân, Biên Hoà, Đồng Nai.
Những gương mặt sạm đen vì nắng, những bàn tay nhỏ nhắn nhưng thô ráp, những đôi chân trần còn dính đầy đất đỏ, những cái đầu vàng hoe. Có cả mùi tanh của cá hay mùi mồ hôi, do các em làm việc xong đến ngay lớp học mà chưa kịp tắm rửa.
Lớp học của cô Hoàn hiện có 55 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5, chưa kể có 4 em bị thiểu năng trí tuệ vẫn đến lớp từ 4 – 5 năm nay, nhưng không cho các em vào lớp thì các em cứ khóc và ngồi ở cửa lớp đợi đến 8 giờ tối, các bạn tan học thì 4 em này mới về.
Phần lớn các em là con của những gia đình từ nơi khác đến tạm trú ở các khu Việt kiều, Xóm Chài, khu Bình Dương và cù lao Ba Xê.
| Cô Hoàn cùng học trò chia sẻ những thông tin thú vị trên báo. Ảnh: Lê Dung |
Nhà nghèo, các em bươn chải đủ thứ nghề: Cào hến, lưới cá, cạy vỏ củi, làm lò gạch... hay bán vé số, lượm ve chai... Có em 14 - 15 tuổi mà còi cọc, cao chưa đến 1,2m.
Thế nhưng em nào cũng ham học. Dù mưa hay nắng các em cũng chuyên cần đến lớp. Có em ở tận cù lao Ba Xê, phải chèo thuyền qua sông Đồng Nai đi học nhưng không bao giờ bỏ tiết.
Làm đủ mọi nghề kiếm sống
Năm 1987, cô rời thị xã Bảo Lộc – Lâm Đồng về sinh sống tại khu Việt kiều, P. Long Bình Tân, Biên Hòa, Đồng Nai (gọi là khu Việt kiều là do những hộ dân ở đây có gốc là người Việt, trước Giải phóng họ qua Campuchia sống một thời gian dài, sau đó dẫn con cháu quay trở về Việt Nam). Hầu hết người dân ở đây chỉ biết nói mà không biết đọc và viết tiếng Việt.
| Nhờ sự tận tuỵ của cô, rất nhiều trẻ em nghèo đã được xoá mù chữ. Ảnh: Lê Dung |
Vốn là giáo viên dạy tiểu học, tự cảm thấy mình có trách nhiệm giúp cho người dân ở đây biết chữ, cô Hoàn mở lớp dạy chữ tại nhà và vận động từng người đến học. “Tôi không thể nào quên, lớp học tình thương đầu tiên không chỉ có trẻ em mà còn rất đông người lớn.
Lớp học nghèo với mái nhà tranh, vách lá, bàn ghế được đóng tạm bợ bởi những thanh gỗ vụn tôi đi xin ở các nhà máy gỗ. Vậy mà các học trò từ trẻ đến già, học tập rất nghiêm túc” – cô Hoàn nhớ lại.
Ngày đó, gia đình cô hết sức khó khăn. Nuôi thân đã khó, cô còn làm từ thiện, cô bị người chồng bỏ rơi. Một mình cô phải lao động cật lực để nuôi 2 đứa con thơ. Ngoài thời gian dạy học, cô phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống như bán rau, nước giải khát, khoai lang…
Có lúc mệt mỏi, cũng muốn bỏ lớp, nhưng trước tình cảm của bà con trong vùng cùng sự ham học của học trò, cô lại vượt qua tất cả để đứng lớp. Kết quả đầu tiên là có 45 người dân ở khu Việt kiều được xóa mù chữ.
Tiếng lành đồn xa, lớp học của cô ngày một đông, có năm lên đến 80 em.
Nhìn các em đến lớp với áo quần nhếch nhác, thiếu sách vở, bút mực, tấm lòng nhà giáo khiến cô không khỏi chạnh lòng. Cô tự làm thêm kiếm tiền mua tập sách cho các em. Cô còn thường xuyên “tích trữ” mì gói cho những em đến lớp với cái bụng rỗng ăn tạm lấy sức học hết buổi.
Năm 1998, cô được bầu làm Chủ tịch Hội chữ thập đỏ của phường. Từ đó, cô có điều kiện đứng ra vận động các cá nhân, đơn vị hảo tâm hỗ trợ cho lớp học.
Suốt 20 năm, cũng có lúc cô mệt mỏi muốn bỏ cuộc. Nhưng “nhìn các em nước mắt ngắn dài năn nỉ tôi đừng bỏ lớp, lương tâm tôi lại cắn rứt, lại thấy mình không thể bỏ mặc các em đang rất cần đến tôi” – cô Hoàn tâm sự.
Ước ao một nhà vệ sinh cho các em
Thấy được hiệu quả từ lớp học của cô Hoàn, từ năm 1998, Phòng Giáo dục Biên Hòa đã giao cho cô phụ trách chương trình xóa mù chữ và phổ cập tiểu học cho trẻ em nghèo trong phường, đồng thời hỗ trợ thù lao đứng lớp cho cô.
Mỗi em hoàn thành chương trình chống mù chữ, cô Hoàn được trả 30 ngàn đồng và 50 ngàn đồng cho mỗi em hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học. Khoản thù lao đó tuy ít ỏi nhưng thể hiện được sự quan tâm của ngành đối với cô và trò lớp học tình thương. Nhưng 3 – 4 năm nay, cô Hoàn không còn nhận được thù lao này nữa.
Để duy trì lớp học, cô không chỉ bỏ công sức mà còn cả tiền của. Sách vở, bút mực của các em chủ yếu do một tay cô lo.
| Cuối mỗi buổi học, lớp của cô lại rộn ràng tiếng hát. Ảnh: Lê Dung |
Cảm kích trước tấm lòng của người giáo già bao năm miệt mài gieo chữ, 2 năm qua, một công ty đã tặng 44 phần học bổng (mỗi phần trị giá 300.000 đồng) cho các học sinh trong lớp học tình thương và cựu học sinh của lớp đang theo học các trường bổ túc văn hóa.
Đặc biệt, tháng 8/2007, một công ty khác đã xây tặng một lớp học tình thương có diện tích 50m2 trị giá 40 triệu đồng trên phần đất của gia đình cô hiến cho phường.
Cô vẫn mong muốn có một nhà vệ sinh riêng, có nước sạch để các em có thể tắm rửa trước khi vào lớp, vì nhiều em đi cào cá, cào hến về trễ, vội đến lớp khi người còn đầy bùn đất.
Trăn trở lớn nhất của cô là việc tìm người kế tiếp cô đứng lớp để lớp học vẫn được duy trì. Mấy năm trước, chị Phạm Thị Tú Trinh – con gái cô – thấy mẹ vất vả đã phụ cô dạy lớp 1 và lớp 2. Chị Trinh cũng đứng ra dạy nghề cho các em như đan lát, may vải vụn, cắt tóc…
Nhưng từ khi chị Trinh lấy chồng, sinh con, mình cô lại đảm đương hết các lớp.
“Dạo trước cũng có một cô giáo ngỏ ý muốn thay tôi dạy các em. Nhưng khi nghe tôi nói dạy các em hoàn toàn không có phí, cô ấy đã lẳng lặng bỏ đi. Hiện tôi đang nuôi 2 em học Cao đẳng sư phạm Đồng Nai để sau này thay tôi đứng lớp. Nhưng cũng không chắc chắn 2 em sẽ về dạy mà không có một khoản trợ cấp nào” – cô Hoàn băn khoăn.
- Lê Dung