Làng cày bừa Vân Dương: Gỗ cấm và sắt vụn
- Đã có thời, hầu hết các gia đình trong làng Vân Dương (xã Hòa Phong, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) đều làm nghề và no đủ trong một thời gian dài. Thế nhưng, giờ đây, viễn cảnh về một làng nghề tấp nập chỉ còn lại trong ký ức...
TIN LIÊN QUAN
"Công nghệ"
Gỗ để làm cày bừa thường là loại gỗ nghiến hay còn gọi là "gỗ kiêng" bởi "không bao giờ được dùng để làm nhà". Loại gỗ này có đặc tính bền, chịu được nước, mưa, nắng.
Tuy nhiên, "nghiến là loại gỗ có nhiều thớ ngang. Người thợ phải chọn được đúng bản hoa (mặt nhẵn) thì đóng gỗ mới chắc. Còn nếu đóng vào bản rặng (mặt sần sùi) sẽ làm thân gỗ vỡ như bổ củi, vừa không làm được ra sản phẩm lại tốn gỗ", ông Phạm Đình Tháng, có thâm niên hơn 30 năm làm nghề cho biết.
![]() |
| Ông Ấu là một trong hai người trong làng còn bám nghề. |
"Thuở trước gỗ còn sẵn lắm, đều đặn mỗi tháng hai chuyến chúng tôi đánh xe lên tận Lạng Sơn thu mua. Gỗ đem về chất đầy sân. Sau này, khi Nhà nước mình cấm khai thác gỗ quý, chúng tôi phải mua lại của những lái buôn trong vùng. Mình biết sử dụng gỗ cấm là sai đấy nhưng cái anh cày bừa chỉ dùng được mỗi gỗ này thôi nên đành chịu sai chứ biết làm thế nào", ông Nguyễn Đình Ấu nói.
Ông Ấu cho biết thêm, trừ lưỡi cày bằng gang phải đặt mua tận trên làng Đa Hội (Bắc Ninh), còn lại những phần của bừa (răng, nén, chằng) đều được tận dụng từ... sắt phế liệu. "Nếu mua sắt chính phẩm về làm thì sẽ không có lãi vì giá thành cao", ông Ấu giải thích.
Hiện tại, giá bán của bừa thường dao động từ 250.000 - 300.000đ, cao hơn cày khoảng vài chục nghìn. Trừ tất cả chi phí, người thợ cũng lãi được từ 30.000 - 50.000đ/sản phẩm.
Đau đáu giữ nghề
Trong ký ức của những người Vân Dương như ông trưởng thôn Vũ Đức Thuận thì hình ảnh cả làng hơn 600 hộ cùng làm nghề đã tạo nên một bức tranh thật sống động, bởi "đi đến đâu trong làng cũng thấy cảnh nhộn nhịp bởi tiếng rèn, tiếng đục đẽo. Xe về "ăn" hàng ra vào tấp nập".
"Thịnh nhất vẫn là thời bao cấp và những năm đầu thực hiện chủ trương khoán 10. Khi ấy, mỗi lần nhận hợp đồng từ các nơi gửi về, chúng tôi phải làm miệt mài ngày đêm mới kịp giao hàng. Trẻ con 7, 8 tuổi đã có thể làm những việc đơn giản phụ thợ. Mỗi ngày, làng sản xuất khoảng 1.500 chiếc cày, bừa. Riêng hai năm 1987 - 1988, chúng tôi sản xuất được 1 vạn bộ cày bừa/vụ", ông Thuận nhớ lại.
Giữa những năm 90 của thế kỷ trước, khi phong trào cơ giới hóa trong nông nghiệp bắt đầu được đẩy mạnh, những chiếc máy cày dần xuất hiện trên cánh đồng thay cho hình ảnh "con trâu đi trước, cái cày theo sau". Điều đó cũng đồng nghĩa với việc nghề làm cày bừa sẽ "lui vào dĩ vãng".
![]() |
| Chúng tôi sẽ vẫn làm nghề cho đến khi nào không còn sức mà làm nữa |
Đầu năm 2000, hầu hết các gia đình trong làng bỏ nghề để chuyển sang làm mộc hoặc làm nghề tự do như phu hồ. Hiện chỉ còn hai hộ vẫn làm nghề là gia đình ông Nguyễn Đình Ấu (65 tuổi) và Phạm Hồng Câu (64 tuổi).
Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Ấu vẫn không giấu được niềm tự hào khi ông còn bám được với nghề, dù cho "bây giờ mỗi năm tôi chỉ làm khoảng bốn đến năm chục bộ cày bừa, chỉ bằng 1/10 so với chục năm về trước".
Khi tôi hỏi, "nếu một ngày nào đó làng nghề cày bừa sẽ hoàn toàn biến mất", chưa đợi hết câu, ông Ấu bắt lời vẻ chắc nịch "ngày đó chắc chắn sẽ đến khi những người cao tuổi như chúng tôi khuất núi". Rồi giọng ông chợt chùng xuống "cũng đành phải chấp nhận thôi. Thời thế thay đổi mà".
Dẫu vậy, cả ông Ấu và ông Câu đều khẳng định: "Chúng tôi sẽ vẫn làm nghề cho đến khi nào không còn sức mà làm nữa. Bởi đó là nghề của cha ông, mình đã gắn bó 3/4 cuộc đời rồi, bỏ sao đành. "Sinh nghề tử nghiệp" mà".
Thanh Thủy

