Làng "cày bừa" Vân Dương
- Từ lâu, làng Vân Dương (hay còn gọi là làng Muồng, xã Hòa Phong, Mỹ Hào, Hưng Yên) đã nổi tiếng với nghề làm cày bừa. Sản phẩm của làng có mặt ở khắp các tỉnh miền Bắc nước ta. Người Vân Dương vẫn tự hào về nghề truyền thống của quê mình.
Ngôi làng cổ
Tục truyền, làng Vân Dương xưa có tên gọi là làng Khánh Vân, thời Trần thuộc Hồng Lộ. Khi giặc Minh xâm lược nước ta, trai làng rèn vũ khí để giúp nghĩa quân đánh giặc. Giặc tràn về, chúng đã triệt hạ cả làng, bắt được đàn ông, chúng chặt tay phải để không còn sức rèn vũ khí. Trước tình cảnh đó, người Khánh Vân phiêu bạt đi nhiều nơi.
![]() |
| Miếu thờ ông tổ nghề cày bừa. |
Giặc tan, người dân đã quay trở về nhưng không ở trên nền đất cũ mà chuyển sang nơi mới, đổi tên là làng Muồng và bắt đầu khôi phục nghề truyền thống. Nghề rèn sắt ở làng đã đi vào câu ca "trống Chinh, đình Giải, vải Mao, dao Sặt, sắt Muồng", trở thành niềm tự hào của người dân trong làng.
Thời Hậu Lê, làng Muồng thuộc huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương. Thời Nguyễn đổi thành làng Vân Dương, huyện Mỹ Hào như tên gọi bây giờ.
Kiêng gọi từ "búa"
Theo các bậc cao niên trong làng, Vân Dương xưa có nghề làm bừa là chính, vì nghề này gắn với nghề rèn. Nhưng sau đó, do nhu cầu sử dụng ở nhiều nơi khá lớn, người thợ đã học thêm nghề làm cày. Từ đó, Vân Dương được biết đến là làng làm cày bừa có tiếng ở khắp các tỉnh miền Bắc.
Thế nhưng, nghề làm cày bừa có chính xác từ khi nào, nhiều người trong làng không nhớ rõ. Ông Phạm Hồng Câu (64 tuổi, người chuyên viết văn tế trong các buổi lễ ở đình làng) cho hay: Không có gia phả nào ghi chép lại lịch sử của làng nghề. "Dựa theo thời gian xây đình làng cách đây 207 năm thì có thể nghề làm cày bừa đã xuất hiện ít nhất cũng ngần ấy năm", ông Câu khẳng định.
Mặc dù hiện nay trong khu di tích đình làng vẫn còn miếu thờ ông tổ nghề song hầu như không ai còn nhớ rõ tên húy. Chỉ biết rằng, từ bao đời nay, người dân Vân Dương không bao giờ được gọi từ "búa" trong sinh hoạt hằng ngày, cái búa thì gọi là "dùi". "Từ lý do đó mà chúng tôi đoán rằng Búa là tên húy của ông tổ nghề", ông Câu nói.
"Mực mắt"
Ông Câu cho biết thêm, theo lệ, trong quá trình làm cày bừa, người thợ không được vẽ mẫu trực tiếp lên gỗ hay lên giấy mà chủ yếu dùng "mực mắt" (nhìn sản phẩm rồi bắt chước cách làm). "Một phần vì ngày đó không có thước đo như bây giờ, phần khác vì sợ mất nghề nên các cụ quy định rất nghiêm khắc", ông Câu giải thích.
Mặc dù vậy, các sản phẩm cày bừa đều có kích thước nhất định. Chẳng hạn: bừa có chiều dài dao động từ 1 - 1,2m, chia làm 3 loại: bừa 9 răng (dùng cho ruộng màu), bừa 11 răng và 12 răng (dùng cho đồng đất tơi xốp). Cày có độ dài tương đối ổn định là 1,3m.
"Người thợ có thể áng chừng bằng gang tay để đo kích thước của cày, bừa. Thế nhưng, để chọn được mức chuẩn (đối với bừa dài 1,08m), nhất là có thể làm được các loại dáng bừa phù hợp với đồng ruộng (bừa "ngả" - đồng màu, bừa "ngồi" - đồng trũng) thì đòi hỏi ở người thợ phải có kỹ thuật và "bí quyết" riêng", ông Nguyễn Đình Ấu, 65 tuổi, người có thâm niên hơn 50 năm làm nghề cho biết.
Thông thường, để làm ra một chiếc bừa thường tốn thời gian và công sức hơn làm cày. Bởi lẽ, bên cạnh việc đẽo gỗ, người thợ còn phải rèn sắt thành những chiếc răng bừa. Trung bình một người thợ làm mỗi ngày chỉ được một chiếc bừa, trong khi có thể làm được ba, bốn chiếc cày.
Kỳ tới: Gỗ cấm và sắt vụn
Thanh Thủy
