PGS.TS Đỗ Quang Huy: Xây dựng, đào lấp nhiều nên mới bụi
- PGS.TS Đỗ Quang Huy là nhà khoa học nghiên cứu môi trường, hiện là giảng viên khoa Môi trường (Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội). Ông đã dành cho Bee.net.vn một buổi trò chuyện về môi trường Việt Nam.
"Điếc không sợ súng"…
Ông đánh giá thế nào về môi trường Việt Nam?
Tôi thấy môi trường Việt Nam tốt đấy chứ.
Tốt sao? Tôi thấy các thành phố của chúng ta đi đâu cũng vấp phải rác. Người người, nhà nhà toàn tranh thủ xả rác ra đường, hè phố.
Đó chỉ là một phần nhỏ ở thành phố lớn thôi. Mặt bằng chung thì môi trường nước ta vẫn còn khá sạch. Về nông thôn thì không khí trong lành và sạch sẽ lắm. Nhiều người nhầm tưởng mình ô nhiễm lắm nhưng các nước còn ô nhiễm hơn nhiều như Philippin, Thái Lan...
![]() |
| Tôi cho rằng giáo dục môi trường của ta còn hổng. |
Ở Thái Lan người ta vứt đầy túi nilon dưới ruộng. Ô nhiễm nhất của Việt Nam bây giờ là việc xây dựng, đào lấp nhiều nên mới bụi thế. Cần có chính sách quản lý tốt hơn về vấn đề này. Chi phí cho môi trường của Việt Nam hằng năm cũng khá nhiều. Người dân ý thức thì cao nhưng kiến thức thì yếu cho nên đôi khi gây ô nhiễm môi trường mà không biết.
"Ý thức thì cao nhưng kiến thức thì yếu" - Tôi không rõ lắm?
Dân có ý thức sạch nhưng kém hiểu biết về môi trường. Kiểu "điếc không sợ súng". Họ dùng bất cứ thứ gì có thể dùng được dù chưa đủ khả năng để kiểm định xem cái đó có an toàn hay không. Ở các nước phát triển, do dân trí cao nên các sản phẩm cũng phải đáp ứng chất lượng hơn. Tất nhiên, trong đó cũng có phần trách nhiệm của nhà quản lý. Nhưng ở nước ta thì ngay chính nhà quản lý còn chưa đủ trình độ để nắm rõ chất độc hại thì làm sao có thể kiểm soát được sản phẩm đó có an toàn hay không?
Thiếu hụt và báo động
Ông nói về dân trí, về sự chưa đủ trình độ để hiểu rõ vấn đề... Tôi nghĩ có một phần trách nhiệm của ông trong đó vì chính ông là giảng viên về môi trường?
Đúng là tôi cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nhưng cũng phải nói rằng, cộng đồng của mình sống trong một nền tri thức lớn. Họ đọc sách khoa học rất ít, nhất là về môi trường. Họ đọc báo chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế, pháp luật, chứng khoán... Các gia đình có con nhỏ thì chú ý xem cho con học ở đâu thì tốt chứ chưa chú ý đến làm thế nào để con hiểu về môi trường. Đó là lựa chọn của họ.
Có vẻ như đó là một hạn chế, một thực tế đáng báo động mà có quá ít người nhận ra?
Hạn chế lắm... Tôi cho rằng giáo dục môi trường của ta còn hổng. Từ cấp 3 trở xuống có thấy nói đến thuốc trừ sâu nguy hiểm đâu. Hay uống nước chè có thuốc trừ sâu nguy hiểm ra sao. Lên đến đại học thì chủ yếu mang tính chất nghiên cứu. Đó là thiếu hụt, là báo động. Hy vọng các năm tới, khoa học môi trường được đưa vào trường học từ cấp 1 đến cấp 3.
Các nước trên thế giới đã đưa giáo dục môi trường vào các cấp học. Học sinh hiểu nó như một môn học cơ bản. Người ta hiểu toán như thế nào thì cũng hiểu về môi trường như thế ấy. Như thế, dân người ta mới tránh được độc hại.
Mình làm khoa học cốt để cho dân sướng
Ông chuyên nghiên cứu các vấn đề về an toàn thực phẩm, hóa chất... Ông có "điếc không sợ súng"?
Chỉ người kém hiểu biết mới "điếc không sợ súng". Còn biết rồi thì tránh ra, không sợ nữa.
Ông tránh như thế nào?
Những cái gì mà mình biết có tác hại thì không sử dụng. Nếu bắt buộc phải sử dụng thì nên hạn chế tối đa. Phải biết cách chọn lựa sao cho an toàn, không biết nó có an toàn hay không thì phải tìm hiểu chứ đừng tặc lưỡi. Ví dụ, hiện nay tôi không sử dụng giấy ăn, vì giấy ăn có chứa các chất độc.
Bằng phương cách này ông thấy mình đã tránh được bao nhiêu %?
Khoảng 60 - 70%. Chỉ có những cái người ta ném vào môi trường, không khí thì không có cách nào để tránh. Vì mình không thể không ngửi, không hít được.
70%! Nếu tránh được như thế chắc tuổi thọ người Việt Nam sẽ cải thiện đáng kể?
Tuổi thọ thì tôi không dám khẳng định nhưng chắc chắn sẽ sống khỏe hơn. Cái đấy quan trọng lắm. Mình làm khoa học cốt để làm sao cho dân sướng, dân tránh được nỗi khổ.
Vì niềm đam mê
Nhiều người bảo làm khoa học môi trường nhiều tiền. Chuyên gia "cỡ bự" như ông chỉ giảng một buổi cho dự án cũng thu về hàng trăm đô?
Dễ mà không dễ. Muốn kiếm được tiền chúng tôi phải có những tư vấn đúng. Muốn có tư vấn đúng thì chúng tôi phải nghiên cứu, phải đổ mồ hôi, phải mất rất nhiều thời gian, công sức. Có những công trình nghiên cứu phải mất hàng năm trời mới có kết quả.
Vậy chắc hẳn ông đã có nhiều công trình như vậy!
Nhiều chứ. Như công trình chống lan tỏa chất dioxin tôi đã làm. Phải mất mấy năm với rất nhiều công sức, đi lại, thử nghiệm. Nhưng kết quả bù đắp lại rất tuyệt vời. Công trình đã được Bộ Quốc phòng đưa vào sử dụng tại các khu nhiều chất độc dioxin.
Công trình đó chắc cũng đưa lại cho ông nhiều giải thưởng và kinh tế?
(Cười). Công trình đang được bên quân đội đề xuất tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Còn kinh tế thì hiện nay vẫn chưa có.
Sao lại chưa có? Tôi nghe nói, khi hoàn tất các công trình khoa học, nhà khoa học mang đi đăng ký bản quyền và có thể có tiền tỉ nhờ bản quyền đó?
Tôi làm là vì niềm đam mê. Nếu bạn đã gặp những con người bị dị tật bẩm sinh, đau đớn vật vã... thì bạn mới hiểu họ khao khát các công trình nghiên cứu đó thế nào. Sau khi làm xong nghiên cứu, tôi không đăng ký bản quyền mà đưa vào thực tế luôn. Bộ Quốc phòng thấy tốt nên áp dụng ngay. Nhiều nước đến nay cũng tâm đắc công nghệ này, trong đó có Mỹ.
Đó là tất cả lý do ông không đăng ký bản quyền sáng tạo của mình?
Ở Việt Nam mình khoa học có một cái khó: người ta dùng những cái của người khác thì không bị nói đến. Người dùng cũng không đưa tiền cho tác giả mà cũng không có ai bắt đưa. Nếu mang đi đăng ký bản quyền để đến khi nhận được tấm bằng sáng chế thì phải đợi quá lâu. Nếu cứ giữ trong cặp rồi đăng ký 3T mới chuyển ra thực tế thì lúc đấy có khi người ta lại không dùng công trình của mình nữa ấy chứ. Đó là bất cập của quản lý khoa học.
Cảm ơn ông.
Hiền Dung (thực hiện)
