Các tỉnh có cho nước ngoài thuê đất rừng phòng hộ?

25/02/2010 06:20:25

- Trước dư luận 10 tỉnh cho nước ngoài thuê đất rừng, trong đó có đất rừng phòng hộ để làm dự án, Bee đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH Đặng Hùng Võ - Cố vấn cao cấp của Dự án Ngân hàng Thế giới về hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai cho Việt Nam. Theo ông Võ, không thể có chuyện quy hoạch lại rừng phòng hộ theo… chuyện đã rồi.

Nên rút giấy phép dự án cho thuê rừng phòng hộ (nếu có)

Ông Đặng Hùng Võ.
Ông Đặng Hùng Võ.

Gần đây có dư luận  về việc nhiều tỉnh cho nước ngoài thuê đất trồng rừng, trong đó có rừng phòng hộ, điều này có hay không thưa ông?

Về mặt nguyên tắc, đối với đất cần bảo vệ, không thuộc loại đất sản xuất, kinh doanh mà cho nước ngoài thuê thì trái pháp luật, cần phải xử lý. Chỉ có thể đưa đất đã được quy hoạch để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh (cả nông nghiệp và phi nông nghiệp) vào cơ chế cho thuê làm dự án.

Tất nhiên, ở đây không nói tới những dự án do các tổ chức quốc tế giúp đỡ nước ta phát triển rừng phòng hộ không vì mục đích lợi nhuận (tất nhiên các dự án loại này không phải thuê đất). 

Nhưng về chuyện này, cũng phải nhìn nhận sao cho khách quan. Trên thực tế, quy hoạch trước đây đã đưa một diện tích rừng khá lớn vào diện rừng phòng hộ. Vì vậy, không có khả năng phát triển rừng phòng hộ đó.

Bộ NN&PTNT đã đề xuất việc quy hoạch loại đất rừng theo hướng rút bớt diện tích rừng phòng hộ để chuyển sang rừng sản xuất. Với tính chất của rừng sản xuất, chúng ta có thể tạo cơ chế để phát triển rừng tốt hơn miễn là bảo đảm đúng chu kỳ khai thác để giữ được tác động phòng hộ của diện tích rừng sản xuất này.

Như vậy, sự bất cập của quy hoạch nặng về rừng phòng hộ cũng đã thể hiện trên thực tế và Bộ có trách nhiệm quản lý rừng cũng đã đề xuất hướng điều chỉnh lại cho phù hợp.   

Vì vậy, ở đây chúng ta cũng cần xem xét lại, phần cho nước ngoài thuê được gọi là “rừng phòng hộ” theo quy hoạch cũ hay theo quy hoạch đã điều chỉnh. Kể cả trường hợp quy hoạch chưa được điều chỉnh nhưng thuộc phần "bức xúc" thực tế cũng nên có góc nhìn "động" hơn, không nên nhìn nhận một cách cảm tính.

Thưa ông, có thể có tình trạng này không: Các dự án cho thuê rừng phòng hộ xảy ra trước khi quy hoạch lại. Và người ta sẽ quy hoạch theo kiểu  “biến” một số rừng phòng hộ đã lỡ cho nước ngoài thuê thành diện tích rừng sản xuất kinh doanh để hợp lý sự đã rồi thì sao ạ? 

Trên thực tế cũng có thể ở nơi nào đó xảy ra như vậy. Bình thường, công việc quy hoạch là khách quan, phải có luận cứ đúng với các tiêu chí đề ra. Nếu bảo đảm nguyên tắc này thì khó có thể điều chỉnh quy hoạch sao cho phù hợp với "sự đã rồi". Nhưng điều các bạn hỏi cũng là một khía cạnh mà chúng ta phải rất cẩn trọng trong xem xét, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch để ngăn ngừa quy hoạch theo các dự án đã phê duyệt.

Còn đối với những tỉnh trót làm sai, đã cho thuê đất rừng phòng hộ, cần xử lý theo quy hoạch đã điều chỉnh: nếu phù hợp quy hoạch lại thì tiếp tục cho triển khai; nếu không phù hợp quy hoạch lại thì phải rút giấy phép dự án.

Nếu rút giấy phép thì phải đền bù, ai sẽ là người đứng ra lo chuyện này?


Theo luật đất đai hiện nay, người quản lý gây ra thiệt hại cho Nhà nước hay cho người khác do quyết định của mình thì phải đền bù thiệt hại đó. Ai ký, ai trình mà trái pháp luật thì người đó phải lo đền bù những thiệt hại xảy ra. 

Nên giao quyền “định đoạt” về đất đai cho địa phương mạnh hơn nữa

Thưa ông, có ý kiến cho rằng, những “vấn đề” nảy sinh trong việc quản lý đất đai ở nhiều nơi như vậy là do việc phân quyền cho địa phương quá lớn?

Trước hết cần khẳng định, việc phân quyền toàn diện trong việc quản lý đất đai, định đoạt về đất đai cho địa phương là hoàn toàn đúng. Các nước trên thế giới đều làm như thế. Đất đai và bất động sản ở các nước đều phân quyền cho cấp hành chính dưới cấp quốc gia một cấp.

Ở các nước có lãnh thổ lớn như Mỹ, Úc, cấp bang là cấp quản lý trực tiếp về đất đai, nguồn thu từ đất thuộc ngân sách của bang. Những nước không có bang thì phân cấp cho tỉnh.

Ở Việt Nam, Luật Đất đai 1993 đã phân cấp quản lý và định đoạt cho cấp tỉnh đối với toàn bộ đất nông nghiệp. Đến Luật Đất đai năm 2003, việc phân cấp quản lý và định đoạt đã giao hoàn toàn cho các địa phương. Đó là xu hướng đúng trong xây dựng hệ thống quản lý. Đất thuộc địa phương, chỉ có địa phương mới hiểu rõ nhất. Trung ương không thể làm tốt được việc này.

Vì vậy, việc phân cấp quản lý và định đoạt không có gì cần rút kinh nghiệm ở đây, vấn đề còn lại là làm thế nào để các địa phương quản lý tốt và định đoạt hợp lý. 

a
"Chính sách của ta đã chú trọng nhiều nhưng vẫn chưa đảm bảo tốt quyền lợi cho người trồng rừng, người bảo vệ rừng".

 

Nhưng thực tế cho thấy có nhiều địa phương lạm dụng việc phân quyền toàn diện này? Nếu phân quyền mạnh hơn nữa thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn cho đất đai quốc gia thưa ông? Có ý kiến đề xuất nên hạn chế hoặc “thu” lại quyền này.

Vấn đề nằm ở chỗ địa phương thực hiện thẩm quyền quản lý và định đoạt của mình như thế nào cho tốt? Địa phương làm tốt hay không tốt thì cũng có một phần trách nhiệm của TƯ, do chưa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra, thanh tra.

Địa phương nếu chưa làm tốt thì có thiếu sót là chưa tường hết nghiệp vụ quản lý, chưa ý thức hết được thẩm quyền của mình và chưa thể hiện hết trách nhiệm với dân.

Theo tôi, điều quan trọng là TƯ phải thực hiện tốt hơn nữa quá trình kiểm tra, thanh tra của các Bộ, quá trình giám sát của các cơ quan dân cử và động viên hơn nữa cơ chế người dân tham gia vào quá trình quản lý. Phải thực hiện tốt hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan TƯ để địa phương quản lý tốt hơn chứ không phải thu lại quyền của địa phương. 

Khi cách thức phân cấp đã đúng thì phải tiếp tục hoàn thiện bằng cách sao cho người có thẩm quyền ở các địa phương có trách nhiệm cao hơn, nghiệp vụ cao hơn, tinh thần trong sáng hơn. Nếu thu quyền lại, các cơ quan TƯ chưa chắc đã làm tốt hơn địa phương.

Theo ông, Chính phủ nên làm như thế nào để các địa phương hiểu được sự nhạy cảm trong việc làm dự án với các nhà đầu tư nước ngoài?

Chúng ta có chính sách công khai, theo đó chúng ta phải cư xử với các nhà đầu tư nước ngoài thật bình đẳng, khi cần lựa chọn giữa nhiều nhà đầu tư chúng ta cũng có cách thức đấu giá đất hay đấu thầu dự án có sử dụng đất. "Bộ lọc" các nhà đầu tư cũng ngày một hợp lý hơn. Trọng tâm còn lại là làm sao cho thật công khai, minh bạch. 

Kinh tế hoá tài nguyên không được rơi vào tình thế của "con dao hai lưỡi"


Nước ta đông dân, nhiều nhân lực có kinh nghiệm để trồng rừng vậy nhưng lại vẫn phải cắt đất rừng cho nước ngoài thuê. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?


Việc trồng rừng đòi hỏi kinh phí lớn. Chính sách của ta đã chú trọng nhiều nhưng vẫn chưa đảm bảo tốt quyền lợi cho người trồng rừng, người bảo vệ rừng. Tôi cũng không biện bạch hộ cho các tỉnh, nhưng thực tế là chi phí cho việc trồng rừng, nuôi dưỡng rừng còn quá thấp nên không huy động được lực lượng của dân.

Có tình trạng rừng được trồng nhưng không được dưỡng. Để triển khai được trên một diện rộng, chúng ta không thể chỉ nhìn vào ngân sách nhà nước, cần động viên vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có nguồn đầu tư của doanh nghiệp trong nước, nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Với các dự án có kinh phí lớn,  người dân có thu nhập cao hơn sẽ thêm động lực tham gia nuôi dưỡng, bảo vệ rừng. Việc các tỉnh hướng nhiều tới đầu tư nước ngoài cũng có lý do chính đáng. Một điểm cần lưu tâm trong quyết định quản lý là luôn phải có tư duy đúng đắn về quốc phòng, an ninh.

Việc rút bớt rừng phòng hộ, tăng diện tích rừng sản xuất phù hợp với chủ trương kinh tế hoá ngành tài nguyên môi trường. Có thể địa phương đang lạm dụng chủ trương kinh tế hoá tài nguyên để cố tình làm sai không thưa ông? Bản thân ông có tán thành với chủ trương này không?


Đây là chủ trương đúng để đưa việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vào vận hành trong cơ chế thị trường. Nhưng khía cạnh thứ hai còn quan trọng hơn là việc kinh tế hóa phải được đặt trong nguyên tắc thực hiện đúng quy hoạch.

Nếu hiểu một chiều, hiểu không đúng để vô tình hoặc hữu ý làm sai đi thì đều rất nguy hiểm. Tài nguyên thiên nhiên vốn rất hạn hẹp, nhất là các tài nguyên không thể tái sinh. Vấn đề bảo vệ và khai thác tài nguyên là hai mặt đối ngẫu có tầm quan trọng ngang nhau. Không thể để tài nguyên nằm đắp chiếu nhưng cũng không thể “đào cả rễ” lên để bán thô. 

Nhiều nước lớn, ví dụ như Mỹ hay Trung Quốc đã có chủ trương đóng cửa việc khai thác khoáng sản trong nước, tích cực mua khoáng sản thô của những nước nghèo về để dùng hoặc dự trữ cho con cháu họ dùng.

Trong khi, các nước nghèo thì phải mang tài nguyên đi bán để giải quyết khó khăn kinh tế trước mắt. Nước ta cần phải cân nhắc trước hết việc quy hoạch khai thác hợp lý, phần được khai thác sẽ phải làm theo phương thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. 

Hiểu phiến diện, một chiều chủ trương kinh tế hóa tài nguyên thiên nhiên là đưa chủ trương này vào thế  của "con dao hai lưỡi". Nhất là không được lợi dụng chủ trương này để "tàn phá" tài nguyên thiên nhiên. 

Ngọc  – Quỳnh – Hạnh (Thực hiện)

.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.