Giảm ách tắc nội đô:

Thu phí giờ cao điểm, tăng phương tiện giao thông công cộng

06/07/2010 14:34:56

- Những giải pháp cho ách tắc giao thông nội đô thành phố dưới góc nhìn kinh tế và tài chính - trao đổi giữa chuyên gia kinh tế Bùi Văn và ông Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc phục trách chính sách công, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbrigh

TIN LIÊN QUAN

CGKT Bùi Văn: Như trao đổi phần trước, dường như chúng ta cũng chưa thống nhất với nhau lắm về giải pháp thu phí. Là người đã đi nhiều nước trên thế giới, anh thấy các nước họ áp dụng việc thu phí này như thế nào?

Ông Nguyễn Xuân Thành: Hai trường hợp được nói đến nhiều nhất là ở Singapore và London (Anh). Ở 2 nơi này, tất cả các phương tiện cơ giới đi vào khu vực nội thành đều phải trả phí giao thông. Mức phí đó được thay đổi theo thời gian đi lại trong ngày. Vào giờ cao điểm, mức phí cao. Cả 2 nơi này khi áp dụng đều thành công.

Thành công thứ nhất là về tác động, đúng sau khi bắt đầu thu phí, tình trạng ách tắc giảm, khuyến khích được người dân sử dụng phương tiện công cộng thay vì phương tiện cá nhân. Giảm được những chuyến đi không cần thiết. Tăng lượng xe vào giờ thấp điểm và giảm lượng xe vào giờ cao điểm.

Thành công thứ 2 là về thực hiện ở 2 nơi, lúc đầu vấp phải sự phản đối vì người ta cho rằng nếu thực hiện sẽ có tác động nhưng sẽ gây tốn kém, khó khăn và gây phiền toái. Với công nghệ hiện đại thì họ gắn chip điện tử vào phương tiện giao thông. Cả 2 nơi đều áp dụng thành công và các chuyên gia ủng hộ đều lấy ví dụ ở 2 nơi này. 
 

d
Kẹt xe ở TP.HCM. Ảnh: An Hội


CGKT Bùi Văn:
Tôi nghe nói ở TP.HCM hiện nay số điện thoại di động còn lớn hơn cả dân số thì việc gắn con chip điện tử cũng không phải là phức tạp lắm, đặc biệt là với những người có xe hơi cá nhân. Nhưng hình như London thu phí từ thời người ta còn dùng vé bằng giấy gắn trên mặt kính?

Ông Nguyễn Xuân Thành: Ở Singapore cũng như vậy, nhưng điều quan trọng chúng ta quan tâm là tác động thì ở cả 2 nơi này đều có tác động tốt, khuyến khích được người ta sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Tức là khi tăng phí sử dụng phương tiện cá nhân lên thì tạo động lực để họ sử dụng phương tiện giao thông công cộng ngay. Hệ thống tàu điện ngầm, hệ thống xe bus ở London và Singapore đều rất phát triển, đó là cái TP.HCM chưa có.

CGKT Bùi Văn
: Hiện nay ở TP.HCM người ta đã đề xuất thu phí giao thông tại khu kinh doanh trung tâm, cụ thể là Q.1, Q.3. Tuy nhiên việc thu phí Q1,Q3 chỉ là bước khởi đầu, tiến ra sẽ phải thu phí ở tất cả các quận. Và chúng ta nhìn thấy kẹt xe ở quận Bình Thạnh, Bình Tân là do nhu cầu xe đi vào Q.1, Q.3. Các con đường như Thị Nghè, Nguyễn Hữu Cảnh, cơ sở hạ tầng ở khu vành đai phát triển chưa đáp ứng kịp nhu cầu như lại vào trong nội đô.

Ông Nguyễn Xuân Thành: Chính vì vậy không thể làm riêng các giải pháp đó được mà phải song song, không thể tăng thêm chi phí cho người tham gia giao thông trong khi người ta vẫn phải đi khi chúng ta chưa có hệ thống giao thông công cộng, chưa có đường vành đai để người ta có phương tiện thay thế.

CGKT Bùi Văn:
Đúng như vậy, chúng ta phải làm song song, nếu không sẽ ra tình trạng con gà quả trứng đợi nhau, một bên nói là chờ có phương tiện mới thu phí, một bên nói là thu phí trước để cải thiện hạ tầng, 2 bên cứ ngồi chờ đợi nhau. Hiện nay dân số TP.HCM ước chừng kể cả người vãng lai khoảng 10 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người ước chừng 3.000 USD/người kể cả cho các em bé, cụ già, nếu chúng ta tiết kiệm thời gian đi lại cho mỗi người chừng 10 phút thì chúng ta tiết kiệm được khoảng bao nhiều tiền?

Ông Nguyễn Xuân Thành
: 1 năm đi làm được 3.000 USD mỗi giờ đi làm được khoảng 1 USD. Trước đây tôi đi làm bị ách tắc thì mất 45 phút, không ách tắc mất 30 phút tức là tôi tiết kiệm được 15 phút, tức là 25 cents. 

Điều thứ 2 tranh cãi là nếu tôi giảm được ách tắc thì lợi ích sẽ vô cùng to lớn, nhưng chúng ta phải rất thận trọng là liệu biện pháp của chúng ta có giảm được ách tắc hay không hay làm tăng chi phí. Và như tôi đã nói điều quan trọng hơn đó là mục tiêu của giải pháp, thứ hai là tính khả thi về mặt thực hiện. 

Ở London hay Singapore lúc đầu cũng có ý kiến phản đối, nhưng vì năng lực quản lý của họ nên quá trình thực hiện rất suôn sẻ, không gây phiền toái thì liệu ở Việt Nam, khi chúng ta thực hiện thu phí có thể giải thích cho người dân để họ không phản đối, vì hiện tại cứ đụng đến thu phí giao thông, kể cả người có xe hơi hay không có xe hơi đều phản đối vì người ta chưa thấy được lợi ích.

CGKT Bùi Văn: Chuyện phải móc tiền túi ra rất rõ ràng, còn chuyện nửa tháng sau, 1 tháng sau giao thông không bị ách tắc sẽ giảm được thời gian đi lại, mà thời gian tiết kiệm đó quy ra thành tiền cũng là con số lờ mờ không rõ. Như vậy, khi cái tổn hại trước mắt thì rất rõ ràng mà cái lợi ích trong tương lai thì còn lờ mờ thì xu thế phản đối là tất nhiên. Nhưng về phía các nhà quản lý, những biện pháp khi được phân tích ra thì có thể có lợi, nhưng khi bị người dân phản đối thì thái độ của các nhà quản lý hay bị chùn lại, để đó sang nhiệm kỳ sau.

Ông Nguyễn Xuân Thành: Chính vì vậy tôi mới nói rằng phải đưa ra các giải pháp song song để đưa ra những phương thức đi lại thay thế cho người dân. Nếu như chúng ta vừa bị ách tắc vừa bị thu phí mà nhìn sang bên cạnh chúng ta có xe bus tốc hành, có những đường dành riêng cho xe bus và xe bus được chạy nhanh thì lúc đấy người ta sẽ thấy đó là là động cơ để người ta chuyển phương tiện. 

Nếu như chúng ta có đường vành đai tốt thì sự phản đối của người tham gia giao thông sẽ thấp đi. Nếu như chúng ta thu phí mà người ta có quyền lựa chọn thì lúc đó là hoàn toàn công bằng. Nếu anh nói mức phí cao quá anh có thể chọn phương tiện lưu thông khác, anh có thể đi tuyến đường khác. Còn nếu anh vẫn phải đi vào khu trung tâm gây ách tắc thì việc anh phải đóng mức phí cao là hoàn toàn công bằng.

Khi chúng ta nói như vậy thì người dân dễ dàng chấp nhận hơn, chứ bây giờ bức xúc nhất là chúng ta chưa biết giải pháp như thế nào, chúng ta chưa đưa ra được phương tiện thay thế nhưng lại thu phí.
 
Cám ơn anh Nguyễn Xuân Thành!

Đồng Thùy (Lược trích từ chương trình đã phát trên kênh truyền hình FBNC)

 

.
Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu
.